|
GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ ARGENTINA
Quốc hiệu: Cộng hòa Ac-hen-ti-na (República Argentina)
Thủ đô: Buênốt Airết (Buenos Aires)
Quốc khánh: 25/5 (Ngày Quốc lễ) và 9/7( Ngày Tuyên ngôn Độc
lập)
|

Quốc kỳ
|

Quốc huy
|

Tổng thống: Bà Cristina
Fernández de Kirchner
(từ 10/12/2007)
Bộ trưởng Ngoại giao: Ô. Jorge Enrique Taiana
Argentina nằm ở cực Nam Nam Mỹ, diện tích lục địa 2.780.400 km2; khí hậu,
thời tiết ôn hòa, hàn đới ở phía nam, cận nhiệt đới nóng ẩm ở phía bắc; nhiệt độ
trung bình 27oC trong mùa hè, 12oC trong mùa đông. Địa
hình, đất đai đa dạng; núi cao dọc phía Tây, cao nguyên và đồng bằng phía Đông
và Nam. Đất canh tác chiếm trên 10% diện tích. Tài nguyên thiên nhiên phong phú,
đất đai phì nhiêu, hải phận và thềm lục địa rộng.
Argentina chia thành 23 tỉnh và 1 thành phố tự trị (Thủ đô Buenos Aires, 14
triệu dân).
Dân số Argentina 40,3 triệu người (2007), phần đông nguồn gốc nhập cư từ
châu Âu, chủ yếu là Tây ban nha, Đức, Ý; tỉ lệ nữ 51,3%, nam 48,7%. Ngôn ngữ:
tiếng Tây ban nha; tỉ lệ biết chữ 97,2%. Tôn giáo: 90% theo đạo Thiên chúa (35%
không đi lễ nhà thờ).
Thể chế chính trị Argentina là nhà nước cộng hòa, dân chủ, đại diện và liên
bang. Đứng đầu cơ quan hành pháp là tổng thống, vừa là nguyên thủ quốc gia vừa
là người đứng đầu chính phủ. Có một phó tổng thống. Tổng thống và phó tổng thống
được bầu qua bầu cử trực tiếp, nhiệm kỳ 4 năm, có thể tái cử một lần. Nội các do
tổng thống thỉ định.
Cơ quan lập pháp là Quốc hội lưỡng viện gồm Thượng viện (72 ghế, các thượng
nghĩ sĩ được bầu qua bỏ phiếu trực tiếp, nhiệm kỳ 6 năm, cứ 2 năm thì bầu mới
1/3 thành viên Thượng viện) và Hạ viện (257 ghế, bầu qua bỏ phiếu trực tiếp,
nhiệm kỳ 4 năm, cứ 2 năm thì bầu mới 1/2 thành viên).
Cơ quan tư pháp là Tòa án tối cao hiện gồm 5 chánh án do Tổng thống bổ nhiệm
với sự nhất trí của tối thiểu 2/3 thành viên Thượng viện.
Ở Argentina hiện có 25 đảng chính trị hoạt động hợp pháp, trong đó 2 đảng
lớn là Đảng Công lý (PJ) và Liên minh Dân sự Cấp tiến (UCR). Đảng Công lý và
liên minh Mặt trận Thắng lợi với đại diện là ông Nestor Kirchner giành thắng lợi
qua bầu cử và cầm quyền từ giữa năm 2003.
Chính phủ của tổng thống Kirchner thực hiện chính sách thực dụng cả về đối
nội và đối ngoại với khẩu hiệu “hoà hợp dân tộc đa dạng” giữa các tư tưởng và
đảng phái chính trị khác nhau. Argentina đã vượt qua được thời kỳ khủng hoảng
2000-2002, kinh tế trong những năm 2003-2007 phục hồi đáng kể, chính trị cơ bản
ổn định.
Trong cuộc bầu cử ngày 28/10/2007, với 45% phiếu bầu, bà Cristina Fernandez,
vợ của tổng thống Nestor Kirchner lúc đó và là ứng cử viên của Mặt trận Thắng
lợi đang cầm quyền, đã giành thắng lợi, trở thành nữ tổng thống dân cử đầu tiên
của Argentina. Dư luận cho rằng trong nhiệm kỳ 4 năm của bà Cristina sẽ không có
thay đổi cơ bản về chính sách đối nội và đối ngoại, nhưng sẽ năng động hơn trong
các biện pháp điều hành và sẽ dành sự quan tâm cho các vấn đề xã hội và đối
ngoại.
Về mặt đối ngoại, Argentina đặt mục tiêu lợi ích quốc gia lên hàng đầu và
tích cực thực hiện quá trình liên kết khu vực, hội nhập với thế giới. Argentina
là thành viên của hầu hết các tổ chức và thể chế chính trị, kinh tế quốc tế và
khu vực, có quan hệ ngoại giao với 142 nước và hơn 80 nước đặt cơ quan đại diện
thường trú tại Buenos Aires. Trong quan hệ cụ thể, ưu tiên phát triển quan hệ
song phương và đa phương với các nước trong khu vực, trước hết là các nước láng
giềng và trong Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR). Chính phủ Argentina tiếp tục
duy trì tốt quan hệ truyền thống với Mỹ nhưng không bị lệ thuộc như trước, đồng
thời tranh thủ phát triển quan hệ với các nước Tây Âu. Quan hệ Argentina với các
nước lớn ở châu Á – Thái Bình Dương như Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ... ngày
càng tăng cường, nhất là về kinh tế thương mại.
Argentina có tài nguyên thiên nhiên phong phú, nền sản xuất nông nghiệp
hướng về xuất khẩu và cơ sở công nghiệp đa dạng. Trình độ công nghiệp hoá của
Argentina tương đối cao. Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu: Đậu tương, ngô, lúa mì,
hạt hướng dương, quả có múi, nho, hạt ngũ cốc khác, thuốc lá, lạc, chè; chăn
nuôi đại gia súc bò, lợn, cừu... Các ngành công nghiệp chủ yếu: Chế biến thực
phẩm, xe có động cơ, hàng tiêu dùng, dệt may, hóa chất và hóa dầu, thép, luyện
kim, ấn loát... Thời kỳ 2000-2002 Argentina trải qua khủng hoảng kinh tế hết sức
nặng nề. Những năm gần đây kinh tế Argentina phục hồi khá nhanh và duy trì tốc
độ tăng trưởng cao.
Một vài số liệu kinh tế:
|
|
2006 |
2007 |
2008 |
|
GDP |
210 tỉ USD |
254 tỉ USD |
338,7 tỉ USD |
|
GDP (PPP) |
494.5 |
537.5 |
575,6 tỉ USD |
|
GDP/đầu người |
5.250 USD |
6.319 USD |
8.468 USD |
|
GDP/đầu người (PPP) |
12.500 USD |
13.400 USD |
14.200 USD |
|
Tốc độ tăng trưởng |
8,5% |
8,6% |
7,1% |
|
Lạm phát |
9,8% |
10,2% |
12% |
|
Thất nghiệp |
8,7% |
7,5% |
7,8% |
|
Dự trữ quốc gia |
32,1 tỉ USD |
46,2 tỉ USD |
45,9 tỉ USD |
|
Xuất khẩu |
46,6 tỉ USD |
55,93 USD |
73 tỉ USD |
|
Nhập khẩu |
31,7 tỉ USD |
44,78 USD |
59,9 tỉ USD |
|
Đầu tư nước ngoài |
4,8 tỉ USD |
5 tỉ USD |
7 tỉ USD |
|
Nợ nước ngoài |
109 tỉ USD |
137,1 tỉ USD |
135,5 tỉ USD |
Argentina là thành viên của các thể chế hợp tác kinh tế quốc tế: Tổ chức
thương mại thế giới (WTO), Hệ thống Kinh tế Mỹ La-tinh (SELA), Hội đồng kinh tế
lòng chảo Thái Bình Dương (PBEC), Hội đồng hợp tác kinh tế Thái Bình Dương
(PECC), Diễn đàn hợp tác Đông Á - Mỹ La-tinh (FEALAC). Đã ký hoặc tham gia các
khu vực mậu dịch tự do hoặc thể chế liên kết kinh tế: Hiệp hội Liên kết Mỹ
La-tinh (ALADI), Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR).
|