Español

DÀNH CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở NƯỚC NGOÀI

VẤN ĐỀ NHÀ ĐẤT, TÀI SẢN

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài có được mua và đứng tên sở hữu nhà-đất trong nước?

Theo quy định tại Điều 121 của Luật Đất đai năm 2003 và Điều 126 Luật Nhà ở của Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam năm 2006 thì, Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam, người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam.

Nếu Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện nêu trên nhưng đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ.

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước có được mua nhà, mở văn phòng tại Việt Nam?

Điều 126 Luật Nhà ở Việt Nam quy định: người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam, người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam thì được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ 06 tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ tại Việt Nam.

Tại điểm a, khoản 4, Điều 65 Nghị định 90/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở đã giải thích rõ khái niệm “đầu tư lâu dài tại Việt Nam” tức là người trực tiếp hoạt động đầu tư theo qui định của Luật Đầu tư, được cấp Giấy chứng nhận đầu tư.

Theo điều 21 Luật Đầu tư năm 2005 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2006) thì đầu tư trực tiếp được thể hiện dưới các hình thức:

• Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước, hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài;

• Thành lập tổ chức liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài;

• Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, BOT, BTO, BT;

• Đầu tư phát triển kinh doanh;

• Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản l‎ý hoạt động đầu tư;

• Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp và các hình thức đầu tư trực tiếp khác.

Trường hợp mở một văn phòng đại diện hoặc chi nhánh tại Việt Nam của Công ty ở nước ngoài không thuộc một trong các hình thức đầu tư trực tiếp kể trên nên không được sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Bởi cho đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào qui định việc nhà đầu tư mở chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Vấn đề nhà ở Việt Nam khi chủ sở hữu sang Mỹ định cư

Có quyền giữ lại nhà hay bắt buộc phải bán?

Nhà nước Việt Nam bảo hộ quyền sở hữu tài sản của cá nhân: cá nhân có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng và các mục đích khác phù hợp với quy định của pháp luật (Điều 213 Bộ Luật Dân sự 2006). Luật pháp Việt Nam không buộc người sở hữu tài sản phải bán tài sản do mình sở hữu hợp pháp cho bên nào khác.

Muốn giữ lại phải làm thủ tục gì?

Lập giấy ủy quyền cho một tổ chức hoặc cá nhân nào đó ở Việt Nam thực hiện việc trông nom, quản lý căn nhà đó (điểm c, khoản 2, Điều 68 Nghị định số 90/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Nhà ở). Việc lập Giấy Ủy quyền quản lý nhà đất phải được thực hiện tại Phòng Công chứng Thành phố. Theo đó, bên nhận ủy quyền phải có nghĩa vụ quản lý, bảo quản căn nhà theo yêu cầu của bên ủy quyền. Hết thời hạn ủy quyền, bên nhận ủy quyền phải giao lại căn nhà đó cho chủ sở hữu (Điều 584 Bộ Luật Dân sự). Tuy nhiên, bên ủy quyền có thể phải trả một khoản thù lao nào đó cho bên nhận ủy quyền theo thỏa thuận. Thời hạn ủy quyền do các bên xác định (Điều 582 Bộ Luật Dân sự).

Có thể ủy quyền để bán?

Theo Điều 21 Luật Nhà ở 2005, quyền của chủ sở hữu nhà ở là được chiếm hữu, sử dụng, bán, cho thuê, tặng cho, đổi, thừa kế, cho mượn, cho ở nhờ, thế chấp, ủy quyền quản lý nhà ở do mình sở hữu hợp pháp. Chủ sở hữu được ủy quyền cho người khác thực hiện thủ tục bán nhà theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Nhà đất đã bị trưng dụng có được trả lại cho chủ đã định cư ở nước ngoài?

Nếu nhà đã bị coi là nhà vô chủ hoặc nhà thuộc diện nhà nước thu hồi quản lí sử dụng hoặc giao cho người khác sử dụng thì chính sách của Nhà nước hiện nay là không thừa nhận việc đòi lại nhà đất mà Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách liên quan đến nhà đất trước 15/10/1993. (Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội khóa XI)

Ngày 2/4/2005, của Uỷ ban thường vụ Quốc hội  thông qua Nghị quyết số 755/2005/NQ UBTVQH11 quy định việc giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể sau đây: Nhà đất thuộc diện thực hiện các chính sách  quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 1 tháng 7 năm 1991 ( theo Nghị quyết số 23/2003/QH11) nhưng đến ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, cơ quan nhà nước chưa có văn bản quản lý, chưa bố trí sử dụng nhà đất đó; Nhà đất mà Nhà nước đã có văn bản quản lý nhưng thực tế chưa quản lý, chưa bố trí sử dụng; Nhà đất mà Nhà nước đã trưng mua nhưng chưa thanh toán tiền hoặc đã thanh toán một phần cho chủ sở hữu;  Nhà đất mà Nhà nước đã trưng dụng; Diện tích nhà đất mà Nhà nước đã để lại khi thực hiện chính sách cải tạo nhà đất cho thuê và chính sách quản lý nhà đất của tổ chức, cá nhân.

Thừa kế tài sản và nhà đất tại Việt Nam đối với người đã nhập quốc tịch nước ngoài?

Theo quy định pháp luật Việt Nam về thừa kế và tài sản, nếu bạn là con đẻ, người thừa kế duy nhất, bạn có quyền hưởng thừa kế tài sản, nhà đất mà cha mẹ để lại theo di chúc. Nhưng vì bạn là người Việt Nam hiện đang định cư ở nước ngoài, đã gia nhập quốc tịch nước ngoài,  không phải là đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam, nên bạn không thể sở hữu nhà đất mà mẹ bạn để lại cho bạn. Tuy nhiên pháp luật Việt Nam cho phép bạn được nhận thừa kế giá trị của căn nhà đó. Nghĩa là bạn chỉ có thể được hưởng số tiền bán nhà đất chứ không thể đứng tên chủ sở hữu.

Để làm thủ tục thừa kế bạn cần xuất trình những giấy tờ chứng minh mình là con đẻ và là người thừa kế duy nhất của gia đình bạn với phòng công chứng của tỉnh, thành phố nơi có nhà, đất để xin chứng thực hưởng thừa kế.

Hiện pháp luật Việt Nam chỉ mới cho phép các đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài gồm: người về đầu tư lâu dài tại Việt Nam; người có công với đất nước, nhà văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam; người có nhu cầu về sống ổn định tại Việt Nam được phép mua nhà ở gắn với quyền sử dụng đất.

Như vậy, nếu muốn sở hữu nhà, bạn phải là nhà đầu tư lâu dài tại Việt Nam hoặc hồi hương về sống ổn định tại Việt Nam.

Việt kiều có được mua đất, mua nhà để kinh doanh tại Việt Nam?

Các qui định về đầu tư, kinh doanh và đất đai ở Việt Nam có trong nhiều văn bản pháp luật và do các cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Dưới đây là một số thông tin cơ bản liên quan đến đầu tư, đất đai nói chung và có liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài nói riêng:       

1. Ở Việt Nam đất đai là tài sản quốc gia, sở hữu của toàn dân. Nhà nước với tư cách đại diện sở hữu toàn dân quản lí việc sử dụng đất, giao đất cho thuê đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất...  

2. Nhà đầu tư được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ người khác có các quyền theo qui định của pháp luật về đất đai; được miễn, giảm tiền sử dụng đất, miễn, giảm tiền thuê đất  và các ưu đãi được pháp luật qui định.

3. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định giao đất, cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài; cho thuê đất đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài.

4. Người Việt Nam ở nước ngoài có thể tự do lựa chọn hình thức đầu tư vào Việt Nam theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước hoặc Luật đầu tư nước ngoài nhưng mỗi dự án chỉ được áp dụng một trong hai luật đó, có thể tự bản thân hoặc liên kết với người trong nước thành lập mới hoặc góp vốn, cổ phần vào các doanh nghiệp sẵn có trong nước thuộc thành phần kinh tế tư nhân hay nhà nước.

Để có thêm thông tin cụ thể, có thể nghiên cứu các văn bản Luật đất đai (2003), Luật đầu tư (2005).

Việt kiều có quyền đứng tên và xây dựng trên mảnh đất được cha mẹ ở Việt Nam chia cho không?

Theo quy định tại Khoản 6, Điều 113 Luật Đất đai 2003 thì hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê có quyền tặng cho quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Tuy nhiên, người được nhận tặng cho phải thuộc một trong các đối tượng sau:

1) Người về đầu tư lâu dài có nhu cầu nhà ở trong thời gian đầu tư tại Việt Nam;

2) Người có công đóng góp với đất nước;

3) Những nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước;

4) Người có nhu cầu về sống ổn định tại Việt Nam;

Điều 103 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 về thi hành Luật Đất đai quy định các trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất:

1) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất đối với trường hợp mà pháp luật không cho phép chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất.

2) Tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân, trừ trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt.

3) Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất chuyên trồng lúa nước.

4) Hộ gia đình, cá nhân không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng; trong khu vực rừng phòng hộ nếu không sinh sống trong khu vực rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đó.

Như vậy, Việt kiều thỏa mãn các điều kiện pháp lý nêu trên có quyền nhận tặng cho quyền sử dụng đất của cha, mẹ.

Trong trường hợp không đủ điều kiện để đứng tên trên Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất tặng cho thì vẫn được hưởng giá trị của đất đó và có thể ủy quyền bằng văn bản cho người trông nom hoặc tạm sử dụng đất và thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về đất đai.

Việc ủy quyền cho người trông nom, quản lý đất đai phải được thực hiện tại Phòng Công chứng. Văn bản ủy quyền quản lý, trong nom đất đai lập tại Phòng Công chứng này sẽ là cơ sở pháp lý chứng minh quyền sở hữu đối với đất đai khi có tranh chấp xẩy ra.

Về việc xin lại nhà cũ của kiều bào đã định cư ở nước ngoài

Quyền lấy lại nhà:

Theo Nghị quyết số 23/2003/QH11 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ngày 26/11/2003 về nhà đất do Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo XHCN trước ngày 01/07/1991, tại Điều 1 quy định: «Nhà nước không xem xét lại chủ trương, chính sách và việc thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà đất đã ban hành trước ngày 01 tháng 7 năm 1991. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại nhà đất mà Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà đất».

Cũng tại văn bản này, Khoản 6 Điều 2 quy định: «Nhà nước hoàn thành thủ tục pháp lý về sở hữu toàn dân đối với các loại nhà đất mà Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách quản lý nhà đất của những người di tản, chuyển vùng hoặc ra nước ngoài».

Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 4, Nghị quyết số 755/2005/NQ-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 02/04/2005 quy định về việc giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể về nhà đất trong quá trình thực hiện chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo XHCN trước ngày 01/07/1991 thì nếu «Nhà đất mà chủ sở hữu tuy thuộc diện thực hiện các chính sách quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 23/2003/QH11 (nêu ở phần trên) nhưng đến ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành (01/07/2004), cơ quan nhà nước chưa có văn bản quản lý, chưa bố trí sử dụng nhà đất đó thì Nhà nước không thực hiện việc quản lý theo quy định của các chính sách trước đây. Việc công nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định của pháp luật».

Trong trường hợp này, sẽ được giải quyết theo quy định tại Điều 5, 9 và 23 của Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH 11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 27/07/2006 về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/07/1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia, cụ thể như sau:

Nhà và đất nêu trên sẽ được lấy lại khi có đủ các điều kiện thuộc một trong các trường hợp sau: 1) Nhà này đang cho người khác thuê nhà ở; 2) Nhà đang cho người khác mượn, ở nhờ; 3) Nhà ở có Uỷ quyền quản lý giữa cá nhân với cá nhân.

1) Nhà đang cho người khác thuê:

Trường hợp thời hạn thuê nhà ở theo hợp đồng đã hết trước ngày 01/09/2006 thì bên cho thuê và bên thuê nhà ở có thể thoả thuận việc tiếp tục thuê nhà ở; nếu thoả thuận được thì các bên phải ký kết hợp đồng thuê nhà ở theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005; nếu không thoả thuận được thì được giải quyết như sau:

Bên thuê đã có chỗ ở khác thông qua các hình thức mua nhà ở, xây dựng nhà ở, thuê nhà ở khác hoặc được thừa kế nhà ở, được tặng cho nhà ở, được Nhà nước giao đất để xây dựng nhà ở hoặc bên cho thuê đã tự nguyện tạo điều kiện cho bên thuê có chỗ ở khác thì bên cho thuê được lấy lại nhà ở nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên thuê biết trước ít nhất sáu tháng; Trường hợp bên thuê không có chỗ ở thì bên cho thuê vẫn được lấy lại nhà ở nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên thuê biết trước ít nhất mười hai tháng.

2) Nhà đang cho người khác mượn, ở nhờ:

Trường hợp thời hạn cho mượn, cho ở nhờ nhà ở theo hợp đồng đã hết trước ngày 01/09/2006 thì bên cho mượn, bên cho ở nhờ nhà ở được lấy lại nhà ở, trừ trường hợp có thoả thuận khác nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên mượn, bên ở nhờ nhà ở biết trước ít nhất sáu tháng.

3) Nhà ở có Ủy quyền quản lý giữa cá nhân với cá nhân:

- Trường hợp trước khi xuất cảnh, chủ sở hữu nhà ở đã uỷ quyền cho người khác thường trú tại Việt Nam quản lý, nếu thời hạn uỷ quyền đã hết trước ngày 01/09/2006 thì bên uỷ quyền được lấy lại nhà ở nhưng phải thông báo bằng văn bản cho người đang quản lý, sử dụng nhà ở đó biết trước ít nhất sáu tháng.

- Trường hợp trước khi xuất cảnh, chủ sở hữu nhà ở đã uỷ quyền cho người khác thường trú tại Việt Nam quản lý, nếu đến ngày 01/09/2006 mà thời hạn uỷ quyền vẫn còn thì chủ sở hữu được lấy lại nhà ở, kể từ ngày hết thời hạn uỷ quyền nhưng phải thông báo bằng văn bản cho người đang quản lý, sử dụng nhà ở đó biết trước ít nhất sáu tháng.

- Trường hợp trước khi xuất cảnh, chủ sở hữu nhà ở đã uỷ quyền cho người khác thường trú tại Việt Nam quản lý, nếu thời hạn uỷ quyền không xác định thì bên uỷ quyền được lấy lại nhà ở nhưng phải thông báo bằng văn bản cho người đang quản lý, sử dụng nhà ở đó biết trước ít nhất mười hai tháng.

Thủ tục lấy lại nhà:

Theo Điều 38 của Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH 11 thì thủ tục xác lập quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp được lấy lại nhà ở cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, mua bán, đổi, thừa kế, đối với uỷ quyền quản lý nhà ở giữa cá nhân với cá nhân được thực hiện theo quy định của pháp luật về nhà ở.

Xem các Điều 127, 128 và 130 của Luật Nhà ở số 56/2005/QH11 của Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam ngày 29/11/2005 để biết thêm chi tiết.

Tài sản di chuyển của người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài khi hồi hương có được miễn thuế?

Theo điểm 1.2.3, Mục I phần D của Thông tư số 59/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 14/06/2007 hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thì, hàng hóa là tài sản di chuyển của gia đình, cá nhân người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài được phép định cư tại Việt Nam thuộc diện miễn thuế thuế nhập khẩu.

Thủ tục miễn thuế trong trường hợp này được thực hiện như sau:

1. Khai và nộp tờ khai hải quan;

2. Nộp, xuất trình chứng từ thuộc hồ sơ hải quan;

3. Đưa hàng hoá miễn thuế đến địa điểm được quy định cho việc kiểm tra thực tế hàng hoá.

Căn cứ vào qui định về đối tượng miễn thuế và hồ sơ miễn thuế, người nộp thuế tự kê khai và nộp hồ sơ cho cơ quan hải quan nơi làm thủ tục hải quan.

Khi về Việt Nam, đương sự phải xuất trình một trong những giấy tờ sau để chứng minh với cơ quan hải quan về đối tượng được miễn thuế như: Hộ chiếu Việt Nam (hoặc giấy tờ thay hộ chiếu Việt Nam có đóng dấu kiểm chứng nhập cảnh của lực lượng kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu); Giấy tờ chứng minh còn quốc tịch Việt Nam do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp; Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền cấp, kèm theo giấy tờ chứng minh được về nước thường trú.

Trang chủ | Đại sứ quán | VN & Mỹ Latinh | Argentina | Paraguay | Uruguay | Cần biết | Thư viện ảnh | Cộng đồng người Việt

© 2007-2009 Đại sứ quán Việt Nam tại Argentina
11 de Septiembre 1442 Buenos Aires - Capital Federal
Tel. (54.11) 47831802, 47831425 | Fax. (54.11) 47820078
Email: vnemb.ar@mofa.gov.vn | Website: http://vietnamembassy.org.ar