|
CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI
Quá
trình hình thành:
Cách đây
hàng trăm năm đã có người Việt Nam ra nước ngoài sinh sống. Lịch sử còn
ghi lại vào thế kỷ thứ 12 con cháu họ Lý đã sang Hàn Quốc lập nghiệp. Thế
kỷ 17 có người Việt Nam sang làm ăn tại Cămpuchia. Thế kỷ thứ 18, đầu thế
kỷ 19 người Việt sang lánh nạn và làm ăn tại Campuchia, Lào, Thái lan,
Trung Quốc.
Sau chiến
tranh thế giới thứ nhất và thứ hai, một số người Việt đi du học, làm
công chức tại Pháp hoặc bị động viên đi lính, phu tại một số thuộc địa
của Pháp. Trong thời kỳ chiến tranh, có thêm một số người ra đi lánh
nạn, kiếm sống, theo chồng hồi hương hoặc đi tu nghiệp, du học ở nước
ngoài. Tuy nhiên, trước năm 1975 số lượng người Việt Nam ở nước ngoài
không lớn khoảng 16 -20 vạn người ở 10 nước, phần đông số này có tư
tưởng sinh sống tạm thời, chờ điều kiện thuận lợi trở về nước.
Từ sau
năm 1975, đã có sự thay đổi sâu sắc về số lượng, thành phần, tính chất
cũng như địa bàn sinh sống của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Số
người ra đi (di tản trước 4/1975, vượt biên trong các năm 1978 – 1980,
theo chương trình ra đi có trật tự và các chương trình nhân đạo 1980
-1996) đã lên tới khoảng 2 triệu người, chủ yếu tới Mỹ, Ôt-xtrây-lia,
Canada, Nhật Bản, các nước Tây và Tây Bắc Âu... Thêm vào đó sau năm
1980, một số khá đông sinh viên, thực tập sinh và lao động Việt Nam ở
các nước XHCN Liên xô, Đông Âu cũ ở lại làm ăn.
Đến nay,
theo thống kê chưa đầy đủ, có khoảng 2,7 triệu người Việt Nam đang sinh
sống ở gần 90 nước và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 80% ở các nước công
nghiệp phát triển (Hoa kỳ khoảng 1,3 triệu người; Pháp, Ôt-xtrây-lia mỗi
nước khoảng 250 nghìn; Ca-na-đa 200 nghìn; Căm-pu-chia, Thái Lan, Đức,
Nga – mỗi nước khoảng 100 nghìn; Đài Loan 65 nghìn; Anh 35 nghìn; Séc 25
nghìn; Lào 18 nghìn; Trung Quốc, Ba Lan, Bỉ, Thuỵ Điển – mỗi nước trên
dưới 10 nghìn...). Phần
đông bà con ngày càng ổn định cuộc sống và hòa nhập vào xã hội nơi cư
trú, có vị trí nhất định trong đời sống kinh tế, chính trị - xã hội ở
nước sở tại, có tác động ở mức độ khác nhau tới mối quan hệ giữa các
nước đó với Việt Nam. Bên cạnh đó, trong những năm qua hàng trăm nghìn
người Việt Nam đã ra nước ngoài lao động, học tập, tu nghiệp, đoàn tụ
gia đình, hình thành các cộng đồng người Việt Nam tại một số địa bàn mới
như Hàn Quốc, Đài loan, Nhật bản, Malaysia...
Đặc
điểm:
So với
các cộng đồng thiểu số khác, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là
cộng đồng trẻ, năng động, nhanh chóng hoà nhập và đại đa số có xu hướng
định cư lâu dài ở nước sở tại chủ yếu là Mỹ, Ôt-xtrây-lia, Canada các
nước Tây Âu (khoảng 80% đã nhập quốc tịch nước cư trú nhưng hầu hết chưa
thôi quốc tịch Việt Nam), trong khi phần lớn người Việt tại Nga, Đông Âu
vẫn coi cuộc sống là tạm cư, khi có điều kiện sẽ trở về nước. Tuy nhiên,
cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cộng đồng phức tạp về thành phần
xã hội, xu hướng chính trị và đa dạng về nghề nghiệp, tôn giáo, dân tộc,
đặc biệt bị chi phối, phân hoá bởi sự khác biệt về giai tầng, chính kiến
và hoàn cảnh ra đi cũng như cư trú ở các địa bàn khác nhau. Chính vì
vậy, tính liên kết, gắn bó trong cộng đồng không cao; cộng đồng sinh
sống phân tán, sinh hoạt cộng đồng có khó khăn, việc duy trì tiếng Việt
và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc truyền thống đang là thách thức lớn
đối với tương lai của cộng đồng.
Dù được
coi là thành đạt nhanh ở Mỹ và phương Tây, tiềm lực kinh tế của cộng
đồng còn hạn chế, thu nhập bình quân đầu người nhìn chung thấp so với
mức bình quân của người bản xứ (55% người Việt có cuộc sống ổn định, nhiều
người vẫn phải sống nhờ vào trợ cấp xã hội). Trong khi đó, tiềm lực chất
xám, trí tuệ của cộng đồng khá lớn, nhất là ở phương Tây, Nga, Đông Âu.
Hiện ước tính trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có khoảng
300.000 người (một số tài liệu nêu 400.000 người, con số này cũng chỉ
ước đoán, chưa có điều tra cơ bản chính thức) được đào tạo ở trình độ
đại học, trên đại học và công nhân kỹ thuật bậc cao, có kiến thức cập nhật
về văn hoá, khoa học và công nghệ, về quản lý kinh tế. Trong đó có nhiều
người đạt được vị trí quan trọng trong các viện nghiên cứu, trường đại
học, bệnh viện, công ty kinh doanh và các tổ chức quốc tế. Một thế hệ
trí thức mới người nước ngoài gốc Việt đang hình thành và phát triển tập
trung ở Bắc Mỹ, Tây Âu và Châu Đại dương ở nhiều lĩnh vực khoa học
chuyên ngành và kinh tế mũi nhọn như tin học, viễn thông, điện tử, vật
liệu mới, chế tạo máy, điều khiển học, sinh học, quản lý kinh tế, chứng
khoán...
Đáng chú
ý là dù sống ở bất cứ nơi nào trên thế giới, cộng đồng luôn duy trì mối
quan hệ gần gũi với quê hương đất nước, mong muốn đất nước phát triển và
hội nhập quốc tế nhanh chóng. Tuy nhiên, có một bộ phận đồng bào do chưa
hiểu đúng về tình hình đất nước nên còn có thái độ tiêu cực hoặc dè dặt
đối với đất nước, thậm chí có một số ít người đi ngược lại lợi ích chung
của dân tộc. Sự đóng góp của bà con vào công cuộc xây dựng đất nước, nhất
là về tri thức còn ít, chưa phản ánh đúng tiềm năng của cộng đồng người
Việt Nam ở nước ngoài.
Theo
Website
BNG
-
Cập nhật 09-03-2005
Đảng và Nhà
nước tiếp tục chăm lo quyền lợi
chính đáng của người Việt Nam ở nước
ngoài
Bài viết của Phó Thủ tướng, Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Gia Khiêm
cho Tạp chí Thông tin Đối ngoại số
tháng 5/2007.
Sự phát triển và tiềm năng
của cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài
Hiện nay có khoảng 3,2 triệu
người Việt Nam đang sinh sống và làm
việc ở trên 90 nước và vùng lãnh thổ
có trình độ phát triển, văn hoá, chế
độ chính trị xã hội khác nhau, trong
đó 4/5 định cư tại các nước công
nghiệp phát triển như Mỹ, Pháp, Úc,
Canada, Anh, Nhật, Tây Bắc Âu...
Cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài phát triển nhanh về số lượng
và ngày càng đa dạng về thành phần.
Bên cạnh những người đã xa Tổ quốc
lâu năm, hàng năm lại có thêm hàng
chục ngàn người Việt Nam đi đoàn tụ
gia đình, học tập, lao động, làm ăn,
kinh doanh ở nước ngoài; số lượng
người Việt Nam kết hôn với người
nước ngoài hiện nay lên tới hơn
100.000 người. Bên cạnh những người
từ trong nước ra đi, đã có thế hệ
thứ hai, thứ ba các thanh thiếu niên
gốc Việt sinh ra ở nước ngoài.
Cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài đang tiếp tục ổn định, hội
nhập tốt hơn vào xã hội sở tại.
Trong cộng đồng có khoảng 300-400
ngàn người có trình độ đại học và
sau đại học, nhiều người là chuyên
gia hoạt động trên các lĩnh vực công
nghệ cao. Trong những năm gần đây
càng ngày càng có nhiều người Việt
Nam thành đạt trong các lĩnh vực
khoa học, kỹ thuật, kinh tế, chính
trị, văn hoá nghệ thuật... và giữ
các vị trí nhất định trong xã hội và
chính trường sở tại.
Dù sống xa đất nước, đa số đồng
bào có tinh thần yêu nước, tự tôn
dân tộc, có ý thức giữ gìn truyền
thống, bản sắc văn hoá và luôn luôn
hướng về Tổ quốc. Phấn khởi và tin
tưởng vào thành công của công cuộc
đổi mới của đất nước, các thế hệ
kiều bào ta ngày càng mong muốn được
gắn bó, đóng góp nhiều hơn với quê
hương, đất nước.
Số người về Việt Nam ngày càng
tăng từ 300.000 lượt người năm 2003
lên hơn nửa triệu lượt người trong
năm 2006. Tính đến hết năm 2006, có
2050 dự án đầu tư của người Việt Nam
ở nước ngoài về nước với số vốn là
14.500 tỉ đồng. Lượng kiều hối bà
con gửi về hàng năm năm sau cao hơn
năm trước, năm 2003 là 2,7 tỉ USD,
tới năm 2006 đạt 4,8 tỉ USD. Hàng
năm có hàng trăm lượt chuyên gia trí
thức kiều bào về nước nghiên cứu,
giảng dạy, hợp tác với các trường
đại học, các viện nghiên cứu; nhiều
hội, đoàn và các tổ chức nghề nghiệp
của người Việt, đặc biệt là ở các
nước phát triển được thành lập và
hoạt động có hiệu quả, hướng về quê
hương đất nước, thực hiện các hoạt
động, các dự án hợp tác khoa học,
công nghệ và các hoạt động mang tính
nhân đạo trợ giúp đồng bào trong
nước.
Tuy nhiên, cộng đồng người Việt
Nam ở nước ngoài cũng đang phải đối
mặt với nhiều vấn đề, đứng trước
nhiều khó khăn, thách thức. Ở một số
nước, địa vị pháp lý của người Việt
Nam chưa vững vàng nên cộng đồng rất
dễ bị tổn thương trước những hành
động bài xích, phân biệt đối xử, kỳ
thị chủng tộc. Sự khác biệt về văn
hoá, ngôn ngữ ảnh hưởng không nhỏ
tới cuộc sống của bà con. Ảnh hưởng
của văn hoá bản địa và những yêu cầu
của cuộc sống hàng ngày là những
thách thức không nhỏ đối với việc
giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống
và tiếng Việt. Ở một số nước, kiều
bào còn phải đối mặt với nguy cơ
khủng hoảng, chiến tranh, xung đột.
Ngoài ra, một số nhỏ lực lượng cực
đoan, phản động vẫn đi ngược lại lợi
ích của bà con, cộng đồng và đất
nước.
Sự quan tâm của Đảng và Nhà
nước tới đồng bào ta đang sống xa Tổ
quốc
Đất nước ta đang bước vào giai
đoạn phát triển mới. Đảng và Nhà
nước ta chủ trương phát huy sức mạnh
của khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
trong đó có cộng đồng người Việt Nam
ở nước ngoài, tạo động lực mạnh mẽ
cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Nghị quyết số 36 –
NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành
26/3/2004 về công tác đối với người
Việt Nam ở nước ngoài lần đầu tiên
được công bố công khai đã thể hiện
bước đổi mới tư duy quan trọng trong
công tác này và sự quan tâm sâu sắc
của Đảng, Nhà nước tới đồng bào ta
đang sống xa Tổ quốc.
Nghị quyết khẳng định quan điểm
nhất quán của Đảng và Nhà nước ta
luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở
nước ngoài là một bộ phận không tách
rời, một nguồn lực của cộng đồng dân
tộc Việt Nam. Xuất phát từ quan điểm
cơ bản đó, Đảng và Nhà nước ta hết
sức coi trọng công tác bảo hộ và
chăm lo các quyền lợi chính đáng của
người Việt Nam ở nước ngoài. Lợi ích
của bà con thể hiện trên cả hai mặt
là ổn định và phát triển cuộc sống,
hội nhập vào đời sống xã hội sở tại;
đồng thời, được tạo thuận lợi để duy
trì mối liên hệ gắn bó với quê
hương, đất nước, giữ gìn bản sắc văn
hoá dân tộc, đóng góp vào sự phát
triển của đất nước trong phạm vi khả
năng của mình. Chúng ta phải hiểu
được một cách thấu đáo những tâm tư,
nguyện vọng, lợi ích chính đáng của
bà con để có thể đáp ứng, thể hiện
đầy đủ tình cảm và trách nhiệm của
Tổ quốc, Đất mẹ đối với những người
con xa nhà. Đây là nhiệm vụ của cả
hệ thống chính trị mà các cơ quan
Đảng, chính quyền, đoàn thể ở Trung
ương và địa phương phải quán triệt
và thống nhất hành động.
Trong thời gian qua, triển khai
thực hiện Nghị quyết 36 của Bộ Chính
trị và Chương trinh hành động của
Chính phủ về công tác đối với người
Việt Nam ở nước ngoài, nhiều chính
sách, biện pháp đã và đang được các
cấp, các ngành phối hợp xây dựng và
triển khai trên thực tế, ở cả trong
và ngoài nước. Do đó, quyền lợi
chính đáng của kiều bào ngày càng
được chăm lo tốt hơn. Cụ thể:
Thứ nhất, trong bối
cảnh tình hình quốc tế, tình hình
nhiều nước diễn biến phức tạp, việc
bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của
người Việt Nam ở nước ngoài nhất là
về địa vị pháp lí là hết sức quan
trọng để cộng đồng có thể ổn định
cuộc sống lâu dài. Trong triển khai
chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà
nước ta, cộng đồng người Việt Nam ở
nước ngoài giờ đây luôn chiếm vị trí
quan trọng. Việc thúc đẩy quan hệ
tốt đẹp giữa Việt Nam với các nước
sẽ hỗ trợ tích cực đối với cộng đồng
người Việt Nam ở các nước, tạo thuận
lợi cho cộng đồng ổn định cuộc sống,
phát triển và phát huy vai trò với
sở tại. Ngược lại, nếu cộng đồng
người Việt Nam ở các nước phát triển
tốt, hội nhập tốt có nhiều đóng góp
vào xã hội sở tại sẽ góp phần tích
cực thúc đẩy quan hệ của các nước
với Việt Nam.
Chính vì vậy, khi đón tiếp nguyên
thủ, lãnh đạo các nước có đông kiều
bào ta sinh sống như Mỹ, Pháp, Nga,
Úc, Canada, Lào, Thái Lan,
Campuchia... tới thăm Việt Nam, cũng
như trong các chuyến thăm của lãnh
đạo Đảng, Nhà nước ta tới các nước
đó, chúng ta đều đề nghị Chính phủ
các nước quan tâm, tạo thuận lợi để
cộng đồng người Việt Nam ổn định
cuộc sống và ngày càng phát triển.
Lãnh đạo các nước trên đánh giá cao
sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà
nước Việt Nam đối với cộng đồng
người Việt Nam ở nước ngoài. Nhiều
thoả thuận, hiệp định hỗ trợ tư pháp
được ký kết ở cấp Chính phủ với các
nước tạo cơ sở pháp lý cho bà con ổn
định cuộc sống và hội nhập vào xã
hội sở tại.
Thứ hai, hơn bao
giờ hết công tác bảo hộ lãnh sự được
đặt lên hàng đầu. Chúng ta đã và
đang tiến hành những biện pháp cần
thiết nhằm bảo vệ những quyền lợi
hợp pháp của người Việt Nam ở nước
ngoài như tài sản, tính mạng của
đồng bào trước các hành động ngược
đãi, kỳ thị chủng tộc, bùng nổ xung
đột, chiến tranh; bảo vệ lợi ích của
người lao động, của công dân Việt
Nam khi xảy ra các tranh chấp kinh
tế, khi quyền lợi của người lao động
bị xâm phạm. Công tác cứu trợ nhân
đạo cũng cần được quan tâm đúng mức
đối với những trường hợp bị thiên
tai hoặc các tai nạn khác. Đối với
các cô dâu Việt Nam lấy chồng người
nước ngoài, những người đi xuất khẩu
lao động có nhiều bỡ ngỡ về văn hoá,
ngôn ngữ, chúng ta đã phối hợp với
các cơ quan có trách nhiệm của nước
sở tại, với các tổ chức phi chính
phủ để tư vấn, hướng dẫn giúp họ
vượt qua những khó khăn ban đầu.
Để có nguồn tài chính thực hiện
những nhiệm vụ nói trên, Chính phủ
đã lập ra các Quĩ hỗ trợ cộng đồng,
Quỹ bảo hộ công dân. Các Quĩ này đã
hoạt động có hiệu quả, tạo thuận lợi
cho các hoạt động hỗ trợ cộng đồng
và bảo hộ lãnh sự đối với người Việt
Nam ở nước ngoài.
Đồng thời, đối với những địa bàn
có những khó khăn đặc biệt chúng ta
có những biện pháp hỗ trợ đặc biệt,
ví dụ như việc Chính phủ quyết định
những khoản kinh phí riêng hỗ trợ
cho cộng đồng người Việt ở
Campuchia, Lào; cử những đoàn công
tác sang Nga hỗ trợ bà con trước
những qui định mới của Chính phủ Nga
đối với người nước ngoài.
Thứ ba, chúng ta
cũng hết sức quan tâm đến việc chăm
lo đáp ứng các nguyện vọng, lợi ích
chính đáng của bà con kiều bào trong
các mối quan hệ với trong nước.
Nhằm tạo điều kiện cho kiều bào
về thăm gia đình, đất nước, tiến
hành các hoạt động thương mại đầu
tư, hợp tác khoa học, giáo dục đào
tạo..., chúng ta đã rà soát, bổ
sung, sửa đổi, ban hành mới các văn
bản pháp luật như đang xem xét miễn
thị thực cho người Việt Nam ở nước
ngoài, mở rộng đối tượng kiều bào
được mua nhà gắn liền với quyền sử
dụng đất ở Việt Nam; cho phép kiều
bào mua cổ phần của các doanh nghiệp
trong nước; đẩy mạnh sự phối hợp
giữa các cơ quan nhà nước trong việc
kết nối các doanh nhân, trí thức
kiều bào với các tổ chức, doanh
nghiệp trong nước. Đồng thời, tiến
hành đơn giản hoá các thủ tục hành
chính như thủ tục hải quan, xuất
nhập cảnh, cư trú đi lại, hợp pháp
hoá các loại giấy tờ, thực hiện
chính sách một giá...
Thực hiện chính sách đại đoàn kết
dân tộc, chúng ta tạo điều kiện để
kiều bào có thể thực hiện quyền lợi
chính trị tham gia đóng góp ý kiến
vào những vấn đề lớn của đất nước
như Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X,
các chủ trương phát triển kinh tế xã
hội của đất nước và nhất là những
chính sách liên quan đến bà con;
tham gia vào các hoạt động quan
trọng ở trong nước như kỷ niệm 2/9,
giỗ Tổ Hùng Vương... Các biện pháp
hoà giải, hoà hợp dân tộc, giải
quyết các vấn đề quá khứ để lại được
thúc đẩy góp phần xoá bỏ định kiến,
thu hẹp khác biệt, tăng cường đại
đoàn kết dân tộc.
Đáp ứng nhu cầu thông tin văn hoá
đa dạng, các phương tiện thông tin
đại chúng, đặc biệt là các báo điện
tử, các chương trình truyền hình và
phát thanh ra nước ngoài đã truyền
tải kịp thời thông tin mọi mặt về
tình hình đất nước đến với bà con;
nhiều đoàn văn nghệ được cử đến các
nước để phục vụ bà con. Các sinh
hoạt văn hoá, tâm linh như mở lớp,
xây trường học, dạy tiếng Việt, lập
các trung tâm văn hoá, câu lạc bộ,
chùa chiền của cộng đồng được Chính
phủ tích cực hỗ trợ, nhất là ở các
địa bàn còn nhiều khó khăn như Lào,
Campuchia. Các hoạt động giao lưu
hội đoàn, văn hoá, thể thao hai
chiều giữa cộng đồng với trong nước
được khuyến khích và mở rộng; các
hoạt động từ thiện nhân đạo của kiều
bào được tạo thuận lợi tại Việt Nam.
Thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước
ngoài được Đảng và Nhà nước ta đặc
biệt quan tâm vì đây là tương lai
của cộng đồng, giữ gìn bản sắc văn
hoá cho họ càng là mối quan tâm lớn.
Các Trại hè được tổ chức, các lớp
tiếng Việt được mở hàng năm, tạo
thuận lợi cho thanh thiếu niên kiều
bào có điều kiện tìm hiểu về cội
nguồn, được giao lưu với trong nước
và duy trì được tiếng Việt, phát huy
vai trò cầu nối hữu nghị với các
nước.
Trong bối cảnh đất nước đang tiếp
tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi
mới, tích cực chủ động hội nhập quốc
tế, công tác đối với người Việt Nam
ở nước ngoài ngày càng có vai trò
quan trọng. Chúng ta sẽ thực hiện
đúng quan điểm cộng đồng người Việt
Nam ở nước ngoài là một bộ phận
không thể tách rời của cộng đồng dân
tộc; phải cố gắng hiểu và đáp ứng
nguyện vọng chung của đông đảo bà
con, không để bà con bị phân biệt
đối xử, tạo thuận lợi cho bà con gắn
bó hơn nữa với cội nguồn, với đất
nước. Quyền lợi chính đáng của bà
con ở trong và ngoài nước cần tiếp
tục được quan tâm chăm lo để bà con
thấy ở Đảng và Nhà nước là một chỗ
dựa vững chắc khi quyền lợi của mình
bị xâm phạm; đồng thời, chúng ta
cũng cần tiếp tục tạo cơ hội và điều
kiện để bà con góp sức cùng xây dựng
đất nước tuỳ theo khả năng của mình
và bằng những hình thức phù hợp với
hoàn cảnh cụ thể.
Với tình cảm chân thành, Đảng,
Nhà nước ta luôn quan tâm, sẵn sàng
hỗ trợ cộng đồng vượt qua khó khăn,
ổn định và phát triển, mong muốn
cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài, không phân biệt dân tộc, tôn
giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã
hội, lý do ra nước ngoài tự nguyện
tham gia vào khối đại đoàn kết toàn
dân tộc để chung sức, đồng lòng xây
dựng một nước Việt Nam dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh./.
Danh sách các doanh
nghiệp, doanh nhân Việt kiều được khen thưởng vì có thành tích xuất
sắc trong sản xuất, kinh doanh và góp phần xây
dựng quê hương, đất nước
(tại Hội nghị Doanh
nhân Việt Nam ở nước ngoài 2006)
I/ Danh sách các doanh
nghiệp được khen thưởng:
|
T.T |
Doanh nghiệp |
Thành phố |
Hình thức khen
thưởng |
|
1 |
Công ty TNHH
Khuyến học
Anh văn Việt Mỹ Quốc Tế |
Đà Nẵng |
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
2 |
Công ty TNHH Nhật
Nam |
Đà Nẵng |
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
3 |
Công ty Cổ phần
Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cadovimex |
Cà Mau |
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
4 |
Công ty TNHH
Composite |
Kiên Giang |
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
5 |
Công ty TNHH
Kiên Dũng |
Kiên Giang |
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
6 |
Công ty TNHH Tân
Việt Úc |
Kiên Giang |
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
7 |
Chi nhánh Công
ty SoTo
Thanh Hoá |
Thanh Hoá
|
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
8 |
Công ty Liên
doanh Việt Hung |
Thanh Hoá
|
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
9 |
Công ty TNHH Cửa
sổ nhựa
Châu Âu |
Vĩnh Phúc |
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
10 |
Công ty Cổ phần
thương mại Sông Hồng Thủ đô |
Vĩnh Phúc |
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
11 |
Trường Đào tạo
Việt Mỹ (Công ty TNHH Thương mại Liên Việt Mỹ) |
TP. HCM |
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
12 |
Công ty Scavi Việt
Nam |
TP. HCM |
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
13 |
Công ty TNHH Hải
Vân |
TP. HCM |
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
14 |
Công ty Cổ phần
Du lịch và Thương mại Vinpearl |
Nha Trang |
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
15 |
Công ty TNHH thương
mại TNL |
Đà Nẵng |
Giấy khen của Chủ
nhiệm UBNVNONN |
|
16 |
Công ty TNHH Quốc
tế Đông Tài |
Hải Dương |
Giấy khen của Chủ
nhiệm UBNVNONN |
|
17 |
Công ty TNHH
Home Deco Canada |
Hải Dương |
Giấy khen của Chủ
nhiệm UBNVNONN |
|
18 |
Công ty TNHH
Toàn Tú |
Lâm Đồng |
Giấy khen của Chủ
nhiệm UBNVNONN |
|
19 |
Công ty TNHH
Khanh Bích |
Lâm Đồng |
Giấy khen của Chủ
nhiệm UBNVNONN |
|
20 |
Công ty TNHH Da
Vàng |
Bà Rịa - Vũng
Tàu |
Giấy khen của Chủ
nhiệm UBNVNONN |
|
21 |
Công ty TNHH Việt
Thắng Lợi |
Bà Rịa - Vũng
Tàu |
Giấy khen của Chủ
nhiệm UBNVNONN |
II/ Danh sách các
doanh nhân được khen thưởng:
|
T.T |
Doanh nhân |
Thành phố |
Hình thức khen
thưởng |
|
1 |
Ông Đoàn Quốc Việt
- Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Liên doanh TNHH Hạ Long Plaza |
Quảng Ninh |
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
2 |
Ông Bùi Ngọc Viễn
- Chủ đầu tư Công ty Đầu tư sản xuất và Thương mại Hoàn Cầu |
Quảng Ninh |
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
3 |
Ông Huỳnh Koc
Hải - Người Việt Nam tại Ôxtrâylia |
Cà Mau |
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
4 |
Ông Nguyễn Quốc
Tuấn - Người Việt Nam tại Ôxtrâylia |
Cà Mau |
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
5 |
Ông Nguyễn Hoài
Bắc - Người Việt Nam tại Canada |
Hải Dương |
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
6 |
Ông Phạm Minh
Nam - Người Việt Nam tại Anh - Chủ tịch Tập đoàn NEW WORLD FASHION
PLC |
Hải Phòng |
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
7 |
Ông Ngô Hồng
Linh - Người Việt Nam tại Nhật Bản - Tổng Giám đốc Công ty TNHH
Thiên Vinh - Hải Phòng |
Hải Phòng |
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
8 |
Ông Nguyễn Thành
Mỹ - Người Việt Nam tại Canada - Giám đốc Công ty Hoá chất Mỹ Lan |
Trà Vinh |
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
9 |
Ông Phạm Đình
Hải - Tổng Giám đốc công ty SoTo Thanh Hoá |
Thanh Hoá
|
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
10 |
Ông Đỗ Văn Thành
- Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Liên doanh Việt Hung |
Thanh Hoá
|
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
11 |
Ông Phạm Nhật
Vượng - Chủ tịch Tập đoàn Technocom |
|
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
12 |
Bà Anoa Dussol
Perran |
|
Bằng khen của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao |
|
13 |
Ông Nguyễn Tấn
Mạnh - Giám đốc Công ty TNHH Số 1 |
Bạc Liêu |
Giấy khen của Chủ
nhiệm UBNVNONN |
|
14 |
Ông Đặng Hùng
Dũng - Người Việt Nam tại Hoa Kỳ, Giám đốc Công ty TNHH Da Vàng |
Bà Rịa - Vũng
Tàu |
Giấy khen của Chủ
nhiệm UBNVNONN |
|
15 |
Ông Nguyễn Văn
Thắng - Người Việt Nam tại Thái Lan, Giám đốc Công ty TNHH Việt Thắng
Lợi |
Bà Rịa - Vũng
Tàu |
Giấy khen của Chủ
nhiệm UBNVNONN |
|
16 |
Ông Nguyễn Thanh
Phong - Giám đốc Công ty Liên doanh Baconco |
Bà Rịa - Vũng
Tàu |
Giấy khen của Chủ
nhiệm UBNVNONN |
|
17 |
Ông Phạm Hoàng
Minh - Công ty TNHH Kim Đô |
Bình Thuận |
Giấy khen của Chủ
nhiệm UBNVNONN |
|
18 |
Bà Vũ Thị Thanh
- Công ty TNHH Hải Âu |
Bình Thuận |
Giấy khen của Chủ
nhiệm UBNVNONN |
|
19 |
Ông Michael Phan
- Công ty TNHH Phương Hưng |
Bình Thuận |
Giấy khen của Chủ
nhiệm UBNVNONN |
|
20 |
Ông Phạm Gia Thắng
- Công ty TNHH Làng Thuỵ Sỹ |
Bình Thuận |
Giấy khen của Chủ
nhiệm UBNVNONN |
Đầu tư của người
Việt Nam ở nước ngoài tại Việt Nam
Đầu tư theo Luật Khuyến
khích đầu tư trong nước
Theo số liệu thống kê
chưa đầy đủ từ báo cáo (1) của các tỉnh, thành phố đã có
1.465 doanh nghiệp của người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư đăng
ký hoạt động theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (Luật KKĐTTN), với
số vốn đăng ký trên 4.925,5 (2) tỷ đồng, trong đó có 23 dự
án được cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư. Để triển khai dự án đầu tư,
các chủ đầu tư đã thành lập doanh nghiệp dưới 3 loại hình công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân.
Bảng 1: Loại hình
doanh nghiệp - lượng vốn đầu tư
|
Loại hình
doanh nghiệp |
Số
lượng |
Tổng số vốn
đầu tư đăng ký
(Triệu
đồng) |
|
Công ty cổ phần |
199 |
1.598.650 |
|
Công ty trách
nhiệm hữu hạn |
1.132 |
3.143.015 |
|
Doanh nghiệp tư
nhân |
134 |
185.863 |
|
Tổng |
1.465 |
4.927.528 |
Theo số liệu tổng hợp
từ các tỉnh, thành phố cho thấy người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu
tư về nước từ 36 quốc gia trên thế giới, nhiều nhất là từ Mỹ với 674 dự
án và số vốn đầu tư trên 4.159 tỷ đồng (chiếm 49,8% tổng số vốn đầu tư),
bình quân mỗi dự án có số vốn đầu tư 6,1 tỷ đồng. Đứng thứ 2 là Úc, với
273 dự án, có số vốn đầu tư 1.050 tỷ đồng (chiếm 12,5% tổng số vốn đầu
tư).
Lĩnh vực đầu tư kinh
doanh của doanh nhân người Việt Nam định cư ở nước ngoài hướng chủ yếu
vào thương mại dịch vụ (chiếm 58% dự án), lĩnh vực sản xuất (chiếm 25%
dự án). Đối với ngành công nghiệp xây dựng (chỉ chiếm5%), do đòi hỏi vốn
lớn, thời hạn thu hồi vốn dài.
Cơ cấu đầu tư theo
tỉnh, thành phố
Bảng 2: Cơ cấu loại
hình doanh nghiệp và vốn đầu tư theo khu vực
|
Loại hình DN |
Khu vực Miền
Bắc |
Khu vực Miền
Trung |
Khu vực Miền
Nam |
|
|
Số DN |
Vốn đầu tư
(triệu
đồng) |
Số DN |
Vốn đầu tư
(triệu
đồng) |
Số DN |
Vốn đầu tư
(triệu
đồng) |
|
CTCP |
20 |
90680 |
7 |
214100 |
172 |
1293870.701 |
|
TNHH |
60 |
135143.3 |
36 |
415726 |
1036 |
2592146.17 |
|
DNTN |
4 |
6300 |
7 |
10300 |
123 |
169262.3149 |
|
Tổng |
84 |
232123.3 |
50 |
640126 |
1331 |
4055280.186 |
Thống kê chưa đầy đủ
của các tỉnh, thành cho thấy ở khu vực miền Bắc, Hà Nội là nơi có số
lượng dự án đầu tư nhiều nhất, với 74 dự án và gần 182 tỷ đồng vốn đầu
tư. Tỉnh có số dự án đầu tư ít nhất là Cao Bằng và Bắc Ninh (có 1 dự án).
Ngoài ra, có nhiều tỉnh thuộc khu vực miền Bắc không có dự án nào ví dụ:
Lạng Sơn, Lào Cai, Bắc Kạn, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Ninh Bình.
Tại khu vực miền Trung,
Đà Nẵng là nơi có nhiều dự án nhất, với 37 dự án và trên 1.062 tỷ đồng
vốn đầu tư, tỉnh có ít dự án đầu tư nhất có thể kể đến là Kon Tum, Gia
Lai, Đắk Lắk (có 1 dự án). Tỉnh không có dự án đầu tư nào là Quảng Ngãi,
Quảng Bình, Quảng Trị.
TP HCM, trung tâm kinh
tế lớn nhất của cả nước, đại diện cho khu vực phía Nam, có số dự án đầu
tư lớn nhất của cả nước, với 1.193 dự án, với số vốn đầu tư trên 2.698
tỷ đồng. Đây là nơi phần lớn các nhà đầu tư lựa chọn để bỏ vốn vào đầu
tư vì điều kiện kinh tế xã hội và cơ sở vật chất tốt hơn các vùng khác
của đất nước. Tỉnh có ít dự án đầu tư nhất khu vực Miền Nam là Hậu
Giang (1 dự án), tiếp đến là Trà Vinh và Bạc Liêu chỉ có 2 dự án.
Cơ cấu đầu tư theo
miền
Bảng 3: Cơ cấu đầu tư
của Việt kiều từ các quốc gia vào Việt Nam
|
Quốc gia, lãnh thổ |
Khu vực
miền Bắc |
Khu vực
miền Trung |
Khu vực
miền Nam |
|
|
Số dự án |
Vốn đầu tư (triệu
đồng) |
Số
dự án |
Vốn
đầu tư (triệu đồng) |
Số
dự án |
Vốn
đầu tư (triệu đồng) |
|
Mỹ |
30 |
87085 |
30 |
558066 |
602 |
2089528 |
|
Nhật
|
0 |
0 |
4 |
13500 |
22 |
25481 |
|
Anh |
3 |
5500 |
|
|
16 |
126112.8149 |
|
Đức |
3 |
13400 |
4 |
22000 |
46 |
55465 |
|
Pháp |
12 |
8767 |
2 |
900 |
167 |
166803 |
|
Úc |
10 |
17917 |
1 |
4600 |
217 |
696166 |
|
Áo |
0 |
0 |
0 |
0 |
1 |
200 |
|
Niu-Di-Lân |
0 |
0 |
0 |
0 |
4 |
7250 |
|
Canada |
12 |
45650 |
6 |
33860 |
167 |
545209 |
|
Na Uy |
0 |
0 |
0 |
0 |
2 |
500 |
|
Đài Loan |
0 |
0 |
0 |
0 |
18 |
32545 |
|
Argentina |
0 |
0 |
0 |
0 |
1 |
120 |
|
Trung Quốc |
3 |
11740 |
0 |
0 |
35 |
129439 |
|
Singapore |
0 |
0 |
0 |
0 |
4 |
5557 |
|
Ba Lan |
2 |
8600 |
0 |
0 |
|
|
|
Hunggari |
0 |
0 |
0 |
0 |
1 |
1350 |
|
Thuỵ Sĩ |
1 |
75 |
0 |
0 |
22 |
27337 |
|
Nga |
0 |
0 |
1 |
3500 |
1 |
50 |
|
Hongkong |
0 |
0 |
1 |
3000 |
6 |
2700 |
|
Hà Lan |
0 |
0 |
1 |
700 |
16 |
60601 |
|
Italia |
3 |
2900 |
0 |
0 |
4 |
3170 |
|
Thái Lan |
2 |
15500 |
0 |
0 |
9 |
9493 |
|
Tiệp |
1 |
4500 |
0 |
0 |
|
|
|
Lào |
1 |
9990 |
0 |
0 |
|
|
|
Hàn Quốc |
1 |
500 |
0 |
0 |
5 |
17107 |
|
Bỉ |
0 |
0 |
0 |
0 |
8 |
11320 |
|
Scotland |
0 |
0 |
0 |
0 |
2 |
3300 |
|
Campuchia |
0 |
0 |
0 |
0 |
4 |
9790 |
|
Đan Mạch |
0 |
0 |
0 |
0 |
7 |
17307 |
|
Thuỵ Điển |
0 |
0 |
0 |
0 |
3 |
8080 |
|
Angeri |
0 |
0 |
0 |
0 |
1 |
1000 |
|
Philippine |
0 |
0 |
0 |
0 |
1 |
353 |
|
Zimbabwean |
0 |
0 |
0 |
0 |
5 |
1800 |
|
Tổng |
84 |
232.124 |
50 |
640.126 |
1.397 |
4.055.298.815 |
Bảng 3, hiện trạng đầu
tư của người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước từ một số quốc
gia có nền kinh tế phát triển cho thấy số lượng dự án đầu tư được tập
trung nhiều nhất ở Miền Nam (1.324 dự án, với số vốn đầu tư trên 5.140
tỷ đồng, bình quân mỗi dự án có số vốn đầu tư là 3,8 tỷ đồng). So với
Miền Trung, Miền Bắc có số dự án nhiều hơn (93/64 dự án) nhưng quy mô
vốn đầu tư lại nhỏ hơn, chỉ bằng 1,9 lần (tỷ trọng vốn đầu tư của mỗi dự
án tương ứng là 8,2 tỷ: 23 tỷ). Qua phân tích này thấy rằng, xét về số
lượng dự án thì khu vực Miền Nam vẫn là nhiều nhất; về quy mô vốn đầu
tư, khu vực Miền Trung là nơi có quy mô vốn trên 1 dự án là lớn nhất.
Điều này nói lên rằng khu vực Miền Trung là nơi có tiềm năng phát triển
tốt trong tương lai, mặc dù khu vực này vẫn còn có những điều kiện kém
thuận lợi hơn so với một số khu vực khác.
Đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài
Từ tháng 12/1987 đến
tháng 6 năm 2005, trong cả nước có khoảng 5.000 dự án còn hiệu lực với
tổng vốn đăng ký đầu tư trên 45,5 tỷ đô la. Trong đó, doanh nhân người
Việt Nam định cư ở nước ngoài có 92 dự án đăng ký (3) đầu tư;
chủ yếu là theo hình thức đầu tư 100% vốn (75/92 dự án), liên doanh chiếm
khoảng 18% tổng số dự án (17/92 dự án), với tổng số vốn đăng ký hơn
287,4 triệu USD, vốn thực hiện đạt khoảng 84,5 triệu USD, cụ thể:
Nguồn vốn đầu tư của
người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từ
những quốc gia có nền kinh tế cũng như mức thu nhập rất dồi dào, đồng thời
có nhiều người Việt Nam sinh sống, như: Hoa Kỳ (đăng ký 60,4 triệu $),
Liên bang Nga (đăng ký 54,6 triệu $), Thuỵ Sĩ (50 triệu $), từ các nước
Pháp, Úc, Bỉ vào khoảng 20 triệu USD.
Dự án của doanh nhân
người Việt Nam định cư ở nước ngoài do ít về số lượng, về vốn nên trong
lĩnh vực đầu tư kinh doanh cũng hạn chế.
Các dự án đầu tư theo
Luật Đầu tư nước ngoài của doanh nhân người Việt Nam định cư ở nước
ngoài chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp, 64 dự án với tổng vốn
đầu tư 153,76 triệu USD (chiếm 53,5% tổng số vốn). Bên cạnh đó lĩnh vực
dịch vụ cũng nhận được sự quan tâm đáng kể với số vốn đầu tư đăng ký là
119,43 triệu USD. Lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp là lĩnh vực đầu tư nhiều
rủi ro mà lợi nhuận mang lại có thể không cao bằng đầu tư vào công nghiệp
hoặc dịch vụ, do vậy ít được doanh nhân quan tâm đầu tư.
Doanh nhân người Việt
Nam định cư ở nước ngoài thực hiện đầu tư kinh doanh chủ yếu tại các địa
phương có cơ sở hạ tầng tốt, trình độ dân trí và mức sống cao như Hà
Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Khánh Hoà, Đồng Nai.
Điều này cũng hoàn toàn dễ hiểu vì đầu tư vào các tỉnh này sẽ giúp nhà
đầu tư giảm bớt được chi phí sản xuất, có dung lượng thị trường lớn nên
thuận lợi trong khâu tiêu thụ sản phẩm và phù hợp với xu thế của đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam thời gian qua.
Các doanh nghiệp đầu
tư nước ngoài của người Việt Nam định cư ở nước ngoài đi vào hoạt động
đã tạo ra doanh thu bình quân trên 40 triệu USD/năm (số cộng dồn là
437,35 triệu USD, đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu của đất nước trung
bình trên 20 triệu USD/năm. Năm 2003, các dự án đầu tư của Việt kiều
theo Luật Đầu tư nước ngoài đã đóng góp vào ngân sách nhà nước 1,2 triệu
USD. Bên cạnh đó, cho đến nay các dự án này của Việt kiều đã tạo ra việc
làm cho hơn 7 nghìn lao động trong nước.
Đầu tư theo hình thức gián tiếp (lượng kiều hối gửi về nước)
Hàng năm kiều hối chuyển
về nước tăng bình quân trên 10%. Nếu như năm 1991 kiều hối chuyển về mới
đạt 31 triệu Đô la, thì đến năm 1995 đã đạt 284,96 triệu Đô la. Thông thường,
kiều hối được chuyển về nhiều nhất là thông qua các ngân hàng như Đông
Á, Vietcombank, Sacombank, Eximbank, Ngân hàng xuất nhập khẩu, Ngân hàng
quốc tế, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,...
Ngoài ra, số lượng kiều
hối được mang theo người khi về nước mà không phải khai báo hải quan
cũng rất lớn, ước khoảng 1.500-2.000 triệu Đô la/năm. Đặc biệt, Quyết
định số 78/2002/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung Quyết định số 170/1999/QĐ-TTg đã
tạo thuận lợi hơn cho việc mang ngoại tệ khi về nước. Việt kiều được mở
tài khoản tiền gửi ngoại tệ tại Ngân hàng đối với số ngoại tệ có nguồn
gốc mang từ nước ngoài hoặc từ nước ngoài chuyển vào Việt Nam.
So sánh trong năm
2004, lượng kiều hối là 3,2 tỷ USD, trong khi đó, tổng vốn đầu tư nước
ngoài thực hiện tại Việt Nam đạt mức 2,85 tỷ USD; năm 2005 kiều hối ước
3,8 tỷ USD, tổng đầu tư nước ngoài ước đạt 5,4 tỷ USD và nhập siêu khoảng
5 tỷ USD. Những so sánh này khẳng định tầm quan trọng của nguồn lực kiều
hối, nhưng quan trọng hơn, kiều hối đang ngày càng thể hiện giá trị
trong xã hội nhất là ở khu vực nông thôn.
Theo Báo Quê Hương
__________________
(1)
Có 46/64 tỉnh, thành phố (trong đó có 37 tỉnh có dự án) gửi báo cáo
tổng hợp kết quả tình hình đầu tư của người Việt Nam định cư ở nước
ngoài đầu tư về nước
(2)
Theo ông Nguyễn Phú Bình, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao trong trả lời phỏng
vấn của hãng AP ngày 18/3/2005: có 1.520 dự án đăng ký đầu tư theo Luật
Khuyến khích đầu tư trong nước.
(3)
Số liệu của UB về người Việt Nam ở nước ngoài là 110 dự án
|