|
THÔNG
TIN CƠ BẢN VỀ VIỆT NAM
Quốc hiệu:
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Quốc kỳ |

Quốc huy |
(Xem bản đồ
Việt Nam)
Quốc ca:
Bài hát "Tiến quân ca"
được nhạc sỹ Văn Cao sáng tác cuối năm 1944, trở thành bài hát chính
thức của Mặt trận Việt Minh trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Sau
ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1945), Quốc hội khóa
đầu tiên đã quyết định lấy bài hát này làm quốc ca Việt Nam.
(Xem Quốc ca Việt
Nam)
Quốc khánh:
2/9/1945 (Ngày Độc Lập)
Thủ đô:
Hà Nội
Các nhà Lãnh đạo Việt Nam:
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam: Ô. Nguyễn Phú Trọng
Chủ tịch nước: Ô. Trương Tấn Sang
Thủ tướng Chính phủ:
Ô. Nguyễn Tấn Dũng
Chủ tịch Quốc hội:
Ô. Nguyễn Sinh Hùng
Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao:
Ô. Phạm Gia Khiêm
Diện tích lãnh thổ:
331.690 km²
Dân
số:
85 triệu người (năm 2006), là nước đông dân thứ 13 trên thế giới, trong
đó 51% là nữ, 25% sinh sống tại thành thị và 75% ở nông thôn; tỷ lệ tăng
dân số hàng năm là 1,18%
Vị trí địa lý
(đất liền): Kinh độ : từ 102o 09’ đến 109o
30’ Đông; Vĩ độ : từ 8o10’ đến 23o24’ Bắc
Nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây
giáp Lào, Campuchia, phía đông nam trông ra biển Đông và Thái Bình
Dương. Bờ biển Việt Nam dài 3.260 km, biên giới đất liền dài 4.510 km.
Trên đất liền, từ điểm cực Bắc đến điểm cực Nam dài 1.650km, từ điểm cực
Đông sang điểm cực Tây nơi rộng nhất 600km (ở Bắc bộ), 400 km (ở Nam
bộ), nơi hẹp nhất 50km (tỉnh Quảng Bình).
Đơn vị hành chính: Gồm 59 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương
(Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ)
Đặc điểm địa lý: Núi và cao nguyên chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ.
Đỉnh núi cao nhất: Fan Si Pan cao 3.143 m. Hai vùng đồng bằng chủ yếu:
Đồng bằng sông Hồng: 15.000 km2; đồng bằngsông Cửu Long: 40.000 km2.
Tổng chiều dài các con sông là 41.000 km với tổng lưu lượng gần 300 tỷ
m3 nước và 3.100 km kênh rạch. 2 sông dài nhất: Sông Hồng (ở miền Bắc)
dài 1.149 km trong đó 510 km chảy trên lãnh thổ Việt Nam; Sông Mê kông
(Cửu Long, ở miền Nam) dài 4.220 km trong đó 220 km chảy trên lãnh thổ
Việt Nam.
Đặc điểm khí hậu: Việt Nam hoàn toàn nằm trong vùng nhiệt đới gió
mùa với các đặc điểm khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều và mưa theo mùa. Nhiệt
độ trung bình năm từ 22ºC đến 27ºC. Hàng năm, có khoảng 100 ngày mưa với
lượng mưa trung bình từ 1.500 đến 2.000mm. Độ ẩm không khí trên dưới
80%.
Tài nguyên: Rừng có nhiều loại cây gỗ quý như: đinh, lim, sến, táu,
cẩm lai, gụ, trắc, pơ mu... Các loài thực vật bậc cao có tới 12.000
loài, cây dược liệu 1.500 loài. Động vật ước tính có 1.000 loài chim,
300 loài thú, 300 loài bò sát và ếch nhái, chưa kể các loài côn trùng.
Nước là nguồn tài nguyên quý giá, phong phú nhiều loại tôm, cá, đầy tiềm
năng giao thông, thủy điện. Riêng ở biển có 6.845 loài động vật, trong
đó có 2.038 loài cá, 300 loài cua, 300 loài trai ốc, 75 loài tôm, 7 loài
mực, 653 loài rong biển... Khoáng sản đa dạng: than (trữ lượng trên 6 tỉ
tấn); dầu khí (trữ lượng dầu 3-4 tỷ thùng, khí đốt 50-70 tỷ m3); U-ra-ni
(trữ lượng 200-300 nghìn tấn); kim loại đen (sắt, măng gan, titan); kim
loại màu (nhôm, đồng, vàng, thiếc, chì...); khoáng sản phi kim loại
(apatit, pyrit...). Tài nguyên và tiềm năng du lịch phong phú, đa dạng,
độc đáo, trong đó có những danh lam thắng cảnh được công nhận là di sản
thế giới:
Vịnh Hạ Long, Khu
Phong Nha – Kẻ Bàng,
cố đô Huế,
phố cổ Hội
An,
thánh địa Mỹ Sơn.
Dân
tộc-Ngôn ngữ: Việt Nam có 54 dân tộc cùng chung sống, trong đó dân
tộc Kinh chiếm 86% dân số, tập trung nhiều nhất ở các đồng bằng và châu
thổ các con sông, phần lớn các dân tộc còn lại sinh sống ở miền núi và
trung du. Tiếng Việt là quốc ngữ, nhưng các dân tộc đều có ngôn ngữ
riêng và nền văn hóa truyền thống đặc sắc của mình.
Giáo dục: Tỉ lệ biết chữ trên 95% dân số. Cả nước có 22
triệu học sinh, trong đó có 13,2 triệu học sinh tiểu học (chiếm 58%) 4,3
triệu học sinh trung học và 260.000 sinh viên cao đẳng và đại học.
Sơ lược lịch sử - Quốc hiệu Việt Nam
Từ đầu thời đại đồng thau, các bộ lạc người Việt đã định cư chắc chắn ở
Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Bấy giờ có khoảng 15 bộ lạc Lạc Việt sống chủ
yếu ở miền trung du và đồng bằng Bắc Bộ, hàng chục bộ lạc Âu Việt sống
chủ yếu ở miền Việt Bắc. Tại nhiều nơi, người Lạc Việt và người Âu Việt
sống xen kẽ với nhau, bên cạnh các thành phần dân cư khác.
Do nhu cầu trị thuỷ, nhu cầu chống ngoại xâm và do việc trao đổi kinh
tế, văn hoá ngày càng gia tăng, các bộ lạc sinh sống gần gũi nhau có xu
hướng tập hợp và thống nhất lại. Trong số các bộ lạc Lạc Việt, bộ lạc
Văn Lang hùng mạnh hơn cả. Thủ lĩnh bộ lạc này là người đứng ra thống
nhất tất cả các bộ lạc Lạc Việt, dựng lên nước.
Văn Lang - Tồn tại 2671 năm (2876 trước CN - 258 trước CN):
Văn Lang, tự xưng là vua - mà sử cũ gọi là Hùng Vương và con cháu ông
nhiều đời về sau vẫn nối truyền danh hiệu đó.
Căn cứ vào các tài liệu sử học, có thể tạm xác định địa bàn nước Văn
Lang tương ứng với vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ nước ta hiện nay cùng với
một phần phía nam Quảng Ðông, Quảng Tây (Trung Quốc).
Âu Lạc - Tồn tại 50 năm (257 trước CN - 207 trước CN):
Năm 221 TCN, Tần Thuỷ Hoàng cho quân xâm lược đất của toàn bộ các nhóm
người Việt. Thục Phán - thủ lĩnh liên minh các bộ lạc Âu Việt - được tôn
làm người lãnh đạo cuộc chiến chống Tần. Năm 208 TCN, quân Tần phải rút
lui. Với uy thế của mình, Thục Phán xưng vương (An Dương Vương), liên
kết các bộ lạc Lạc Việt và Âu Việt lại, dựng nên nước
Âu Lạc.
Năm
207 TCN, Triệu Đà - vua nước Nam Việt - tung quân đánh chiếm Âu Lạc.
Cuộc kháng cự của An Dương Vương thất bại. Suốt 7 thế kỷ tiếp đó, mặc dù
các thế lực phong kiến phương Bắc thay nhau đô hộ, chia nước ta thành
nhiều châu, quận với những tên gọi khác lạ mà chúng đặt ra, nhưng vẫn
không xoá nổi cái tên "Âu Lạc" trong ý thức, tình cảm và sinh hoạt
thường ngày của nhân dân ta.
Vạn Xuân - Tồn tại 58 năm (544-602)
Mùa xuân năm 542, Lý Bí khởi nghĩa đánh đuổi quân Lương, giải
phóng lãnh thổ. Tháng 2/544, Lý Bí lên ngôi Hoàng đế, đặt quốc hiệu là
Vạn Xuân, khẳng định niềm tự tôn dân tộc, tinh thần độc lập và
mong muốn đất nước được bền vững muôn đời.
Chính quyền Lý Bí tồn tại không lâu rồi lại rơi vào vòng đô hộ của các
triều đại phong kiến Trung Quốc (từ năm 602). Quốc hiệu Vạn Xuân bị vùi
dập và chỉ được khôi phục sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán bằng
chiến thắng Bạch Ðằng năm 938, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc.
Ðại Cồ Việt - Tồn tại 86 năm (968-1054)
Năm 968, Ðinh Bộ Lĩnh dẹp yên các sứ quân cát cứ, thống nhất
quốc gia, lên ngôi Hoàng đế và cho đổi quốc hiệu là
Ðại Cồ Việt (nước Việt lớn). Quốc hiệu này duy trì suốt đời
Ðinh (968-979), Tiền Lê (980-1009) và đầu thời Lý (1010-1053).
Ðại Việt
- Tồn tại 748 năm (1054-1804)
Năm 1054, nhân điềm lành lớn là việc xuất hiện một ngôi sao sáng
chói nhiều ngày mới tắt, nhà Lý liền cho đổi tên nước là
Ðại Việt và quốc hiệu Ðại Việt được giữ nguyên đến hết thời
Trần…
Sau 10 năm kháng chiến (1418-1427), cuộc khởi nghĩa chống Minh
của Lê Lợi toàn thắng. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, đặt tên nước là
Ðại Việt (lãnh thổ nước ta lúc này về phía Nam đã tới Huế).
Quốc hiệu Ðại Việt được giữ qua suốt thời Hậu Lê (1428-1787) và thời Tây
Sơn (1788-1802).
Ðại Ngu - Tồn tại 7 năm (1400-1406)
Tháng 3/1400, Hồ Quý Ly phế Trần Thiếu Ðế, lập ra nhà Hồ và cho đổi
tên nước thành Ðại Ngu ("ngu" tiếng cổ có nghĩa là "sự
yên vui"). Quốc hiệu đó tồn tại đến khi giặc Minh đánh bại triều Hồ
(tháng 4/1407).
Việt Nam - Tồn tại 80 năm (1804-1884)
Năm
1802, Nguyễn Ánh đăng quang, mở đầu thời Nguyễn và cho đổi tên nước là
Việt Nam, Quốc hiệu Việt Nam được công nhận hoàn toàn
về mặt ngoại giao để trở thành chính thức vào năm 1804. Tuy nhiên, hai
tiếng "Việt Nam" lại thấy xuất hiện từ khá sớm trong lịch sử nước ta.
Ngay từ cuối thế kỷ 14 đã có một bộ sách nhan đề Việt Nam thế chí do
trạng nguyên Hồ Tông Thốc biên soạn. Cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi
(đầu thế kỷ 15) nhiều lần nhắc đến hai chữ "Việt Nam". Ðiều này còn được
đề cập rõ ràng trong những tác phẩm của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm
(1491-1585), chẳng hạn ngay trang mở đầu tập Trình tiên sinh quốc ngữ đã
có câu: "Việt Nam khởi tổ xây nền". Người ta cũng tìm thấy hai chữ "Việt
Nam" trên một số tấm bia khắc từ thế kỷ 16-17 như bia chùa Bảo Lâm
(1558) ở Hải Phòng, bia chùa Cam Lộ (1590) ở Hà Tây, bia chùa Phúc Thành
(1664) ở Bắc Ninh.... Ðặc biệt bia Thuỷ Môn Ðình (1670) ở biên giới Lạng
Sơn có câu đầu: "Việt Nam hầu thiệt, trấn Bắc ải quan" (đây là cửa ngõ
yết hầu của nước Việt Nam và là tiền đồn trấn giữ phương Bắc). Về ý
nghĩa, phần lớn các giả thuyết đều cho rằng từ "Việt Nam" kiến tạo bởi
hai yếu tố: chủng tộc và địa lý (người Việt ở phương Nam).
Ðại Nam -
Tồn tại trên lý thuyết 107 năm (1838-1945)
Ðến đời vua Minh Mạng (1820-1840), quốc hiệu được đổi thành
Ðại Nam. Dù vậy, hai tiếng "Việt Nam" vẫn được sử dụng rộng rãi
trong các tác phẩm văn học, trong nhiều giao dịch dân sự và quan hệ xã
hội.
Việt Nam
Ngày 19/8/1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, lật đổ hoàn
toàn ách thống trị phong kiến và thực dân, mở ra một kỷ nguyên mới. Ngày
02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Suốt 30 năm tiếp theo, tuy đất nước lâm vào cảnh chiến tranh, rồi chia
cắt, hai tiếng "Việt nam" vẫn được phổ biến từ Bắc chí Nam và trở thành
thân thiết, thiêng liêng với mọi người.
Ngày 30/4/1975, miền Nam được giải phóng, non sông quy về một
mối. Ngày 02/7/1976, trong kỳ họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam
thống nhất, toàn thể Quốc hội đã nhất trí lấy tên nước là
Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp năm 1980 và hiến
pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định quốc hiệu đó, đưa nó trở thành chính
thức cả về pháp lý lẫn trên thực tế.
Tổng quan kinh tế Việt Nam qua 20 năm đổi mới
Việt
Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế năm 1986. Con
đường đổi mới đó đã giúp Việt Nam giảm nhanh được tình trạng nghèo đói,
bước đầu xây dựng nền kinh tế công nghiệp hóa, đạt được tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao đi đôi với sự công bằng tương đối trong xã hội.
Trong 20 năm đổi mới, GDP của Việt Nam đã tăng lên liên tục. Trong giai
đoạn đầu (1986-1990), GDP chỉ tăng bình quân 3,9%/năm, trong 5 năm tiếp
theo (1991-1995) đã đạt mức tăng bình quân 8,2%. Trong giai đoạn
1996-2000 tốc độ tăng GDP của Việt Nam là 7,5%, thấp hơn nửa đầu thập
niên 1990 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á. Từ năm
2001 đến nay, tốc độ tăng GDP của Việt Nam đã liên tục phục hồi: 2001
tăng 6,9%, 2002 tăng 7%, 2003 tăng 7,3%, 2004 tăng 7,7%,
2005 tăng 8,4%.
Cơ cấu kinh tế có sự thay đổi đáng kể. Tỷ trọng của khu vực nông nghiệp
giảm từ 38,7% xuống 20,89% GDP, trong khu khu vực công nghiệp và xây
dựng tăng từ 22,7% lên 41,03%, khu vực dịch vụ giữ ở mức 38,6-38,10%. Cơ
cấu các thành phần kinh tế ngày càng được chuyển dịch theo hướng phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước, trong đó kinh tế tư nhân được phát
triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động. Nền kinh tế chuyển
dần từ kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, sang kinh tế thị
trường, huy động và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, tạo đà cho tăng
trưởng và phát triển kinh tế.
Việt Nam sử dụng có hiệu quả các thành tựu kinh tế vào mục tiêu phát
triển xã hội như phân chia tương đối đồng đều các lợi ích của đổi mới
cho đại đa số dân chúng; gắn kết tăng trưởng kinh tế với nâng cao chất
lượng cuộc sống, phát triển y tế, giáo dục; nâng chỉ số phát triển con
người (HDI) của Việt Nam từ xếp thứ 120/174 nước năm 1994, lên xếp thứ
108/177 nước trên thế giới năm 2005; tăng tuổi thọ trung bình của người
dân từ 50 tuổi trong những năm 1960 lên 71 tuổi hiện nay, giảm tỷ lệ số
hộ đói nghèo từ trên 70% đầu những năm 1980 xuống dưới 7% năm 2005.
Chính sách “đa dạng hóa, đa phương hoá” quan hệ quốc tế đã giúp Việt Nam hội
nhập ngày càng sâu rộng hơn với nền kinh tế thế giới và khu vực. Trước năm 1990,
Việt Nam mới có quan hệ thương mại với 40 nước, nay có quan hệ ngoại giao với
172 nước trên thế giới, ký kết các hiệp định thương mại đa phương và song phương
với trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ, gồm cả những nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật
Bản, EU. Việt Nam đã ký các hiệp định hợp tác kinh tế - thương mại với EU (năm
1992), tham gia tổ chức ASEAN (1996) và khu vực mậu dịch tự do AFTA của ASEAN
(2001), tham gia APEC (1998), ký hiệp định thương mại song phương Việt–Mỹ
(2001). Trong thời kì đổi mới, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam mỗi năm
tăng khoảng 20%, nhờ đó đã đưa tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam từ mức khoảng
nửa tỷ USD/năm trong những năm trước đổi mới lên 26 tỷ USD năm 2004 và 32,23 tỉ
USD năm 2005. Thu hút FDI hầu như từ con số không vào năm 1986, tăng lên 3,2 tỷ
USD năm 1997, sau giảm xuống để tăng trở lại, đạt 2,6 tỷ USD năm 2001 và lên 5,8
tỷ USD năm 2005.
Thành tựu đất nước năm 2006 và 2007
Mặc
dù còn nhiều khó khăn, thiên tai, dịch bệnh nhưng kinh tế-xã hội tiếp
tục đà tăng trưởng mạnh, giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng 8,17%
năm 2006, lên 8,48% năm 2007, GDP bình quân đầu người đạt 725 USD năm
2006 lên trên 800 USD năm 2007.
Tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội đạt mức cao nhất trong nhiều năm qua,
khoảng 41% GDP, trong đó nguồn vốn của doanh nghiệp dân doanh chiếm gần 1/3; sản
lượng lương thực đạt khoảng 40 triệu tấn, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia,
đồng thời duy trì xuất khẩu gạo năm thứ 2 liên tiếp đạt trên 5 triệu tấn với kim
ngạch trên 1 tỷ USD. Tốc độ tăng giá tiêu dùng giữ ở mức khoảng 7-7,5%, thấp hơn
tốc độ tăng trưởng GDP. Xuất khẩu hàng hoá tăng cả về số lượng, mặt hàng và thị
trường, đưa tổng kim ngạch năm 2006 đạt 39,6 tỷ USD, năm 2007 đạt 48,38 tỷ USD.
2006-2007 là những năm thành công rực rỡ của ngoại giao Việt Nam. Hội nghị
các nhà lãnh đạo APEC lần thứ 14 tại Hà Nội đã góp phần nâng cao vị thế quốc tế
của Việt Nam và làm sáng hơn lên hình ảnh một Việt Nam trên đường đổi mới thành
công, một Việt Nam hòa bình, năng động, an toàn và mến khách. Uy tín và khả năng
đóng góp có trách nhiệm của Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề an ninh -
chính trị quốc tế quan trọng tiếp tục được khẳng định với việc từ ngày 1/1/2008
Việt Nam trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc khóa
2008 - 2009.
Kinh tế đối ngoại cũng gặt hái những thành công lớn, nổi bật là việc Việt Nam
chính thức trở thành thành viên 150 của WTO, mở ra giai đoạn mới trong quá trình
hội nhập quốc tế của đất nước. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 10,2 tỷ USD năm
2006 tăng vọt lên 20,3 tỉ năm 2007, viện trợ phát triển chính thức xấp xỉ 4,45
tỷ USD năm 2006 lên 5,4 tỉ năm 2007.
Tình hình kinh tế xã hội năm 2007
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2007 tăng trưởng 8,48% so với năm 2006,
trong đó nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,41%; công nghiệp và xây dựng tăng
10,6% ; dịch vụ tăng 8,68%.
Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2007 ước đạt 461,9 nghìn tỷ đồng, bằng
40,4% GDP và tăng 15,8% so với năm 2006, trong đó vốn khu vực Nhà nước chiếm
43,3% tổng vốn và tăng 8,1%; vốn khu vực ngoài Nhà nước chiếm 40,7% và tăng
24,8%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 16% và tăng 17,1%.
Tổng thu ngân sách Nhà nước tăng 16,4% so với 2006, trong đó các khoản thu
nội địa bằng 107%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 108,1%; thu viện trợ
bằng 156,7%.
Tổng chi ngân sách tăng 17,9%, trong đó chi đầu tư phát triển tăng 19,2%, chi
thường xuyên tăng 15,1%, chi trả nợ và viện trợ tăng 20,5%. Bội chi ngân sách
ước bằng 14,8% tổng số chi và bằng mức đã được Quốc hội thông qua.
Giá trị sản xuất của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt gần 200 nghìn
tỷ đồng, tăng 4,6% so với 2006, trong đó nông nghiệp tăng 2,9%; lâm nghiệp tăng
1% và thuỷ sản tăng 11%.
Sản lượng lúa ba vụ đạt 35,87 triệu tấn. Ngô được mùa với sản lượng 4,11
triệu tấn. Đay, mía, lạc đậu tương, cao su, hồ tiêu, hạt điều, chè đều tăng.
Riêng cà phê sản lượng giảm 2,4% do sâu bệnh. Chăn nuôi gia súc, gia cầm tiếp
tục phát triển. Cả nước có gần 3 triệu con trâu, 6,7 triệu con bò, 226 triệu gia
cầm. Diện tích rừng trồng cả năm đạt 194,7 nghìn ha, đưa diện tích rừng cả nước
lên gần 12,85 triệu ha. Sản lượng thủy sản ước đạt 4,15 triệu tấn.
Sản xuất công nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng cao, nhất là khu vực ngoài
nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Giá trị sản xuất năm 2007 tăng
17,1% so với 2006, trong đó khu vực Nhà nước tăng 10,3%; khu vực ngoài Nhà nước
tăng 20,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,2%.
Sản xuất máy công cụ tăng 69,8%; ô tô tăng 52,8%; điều hòa nhiệt độ tăng
51,9%; động cơ điện tăng 24,3%; xe máy các loại tăng 23,9%; máy giặt tăng 21,3%;
bia tăng 19,2%; quạt điện tăng 18,6%; thủy sản chế biến tăng 12,6%; xi măng tăng
11,8%; than sạch tăng 11,5%; thép cán tăng 10,8%; riêng dầu thô giảm 7,8% và khí
hoá lỏng giảm 10,2%.
Giá tiêu dùng diễn biến phức tạp và có xu hướng tăng cao ở các tháng cuối
năm. Giá bình quân năm 2007 so với 2006 tăng 8,3%, trong đó nhóm hàng ăn và dịch
vụ ăn uống tăng 11,16%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 11,01%; các nhóm hàng
hóa và dịch vụ khác chỉ tăng 3,18-6,15%.
Hàng hóa xuất khẩu năm 2007 đạt gần 48,4 tỷ USD, tăng 21,5% so với 2006. Có
10 mặt hàng xuất khẩu đạt giá trị trên 1 tỷ USD là: Dầu thô 8,5 tỷ, dệt may 7,8
tỷ, giày dép gần 4 tỷ, thủy sản 3,8 tỷ, sản phẩm gỗ 2,4 tỷ, điện tử máy tính 2,2
tỷ USD, cà phê 1,8 tỷ USD, gạo 1,4 tỷ USD, cao su 1,4 tỷ, than đá trên 1 tỷ.
Nhập khẩu đạt 60,8 tỷ USD, tăng 35,5% so với năm trước. Các mặt hàng có giá trị
nhập khẩu cao là: máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng, xăng dầu, sắt thép, vải,
điện tử, máy tính và linh kiện, chất dẻo, nguyên phụ liệu dệt, may, da ... Giá
trị xuất, nhập khẩu dịch vụ cả năm 2007 đạt 12,4 tỷ USD, tăng 21,6%.
Khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2007 đạt 4,23 triệu lượt người, tăng 18%
so với 2006. Lượng khách đông nhất đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nhật
Bản, Đài Loan, Ôx-trây-li-a ...
Vận tải hành khách đạt 1535,5 triệu lượt khách và 67,2 tỷ lượt khách.km, tăng
8,4% về lượt khách và tăng 8,6% về lượt khách.km. Vận chuyển hàng hoá đạt 378,6
triệu tấn và 95,1 tỷ tấn.km, tăng 8,1% về số tấn và tăng 7,4% về số tấn.km.
Hoạt động bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển mạnh. Số thuê bao điện
thoại mới trong năm 2007 đạt 18,5 triệu, nâng tổng số thuê bao trên cả nước lên
46 triệu. Đến nay có 18,2 triệu người sử dụng internet, chiếm 21,4% dân số cả
nước.
Nhìn chung đời sống của dân cư tiếp tục ổn định và từng bước được cải thiện.
Tỷ lệ hộ nghèo của cả nước đã giảm từ 15,47% năm 2006 xuống còn 14,75% năm 2007.
Năm
học 2007-2008, cả nước có khoảng 438.900 trẻ em đi nhà trẻ; 2.353.800
trẻ em đi học mẫu giáo; 6.875.000 học sinh tiểu học; 5.868.000 học sinh
trung học cơ sở và 3.084.000 học sinh trung học phổ thông. Cả nước có
346.700 giáo viên tiểu học; 313.800 giáo viên trung học cơ sở và 132.000
giáo viên trung học phổ thông.
Y tế và chăm sóc sức khỏe dân cư tiếp túc được quan tâm. Nhanh chóng dập tắt
dịch tiêu chảy cấp xảy ra trong hai tháng 10 và 11 tại một số địa phương. Tình
hình nhiễm HIV/AIDS tiếp tục gia tăng.
Tổ chức thành công nhiều hoạt động văn hoá quy mô lớn nhân các ngày lễ trọng
đại song song với các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá.
Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" tiếp tục được đẩy mạnh.
Hoạt động văn nghệ, thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì, phát triển rộng.
Trong năm 2007 đã xảy ra 7 cơn bão và những đợt lũ lụt, mưa to, sạt lở
đất,... tại 50 tỉnh thành, làm 435 người chết và mất tích; 850 người bị thương;
phá hủy trên 1,3 nghìn công trình phai, đập, cống; làm sạt lở, vỡ, cuốn trôi
khoảng 460 km đê, kè và 1176 km kênh mương; làm ngập úng, hư hại 113,8 nghìn ha
lúa; 6,9 nghìn ngôi nhà và 921 phòng học bị sập đổ, cuốn trôi; 920,9 nghìn ngôi
nhà bị ngập nước, tốc mái và nhiều công trình kinh tế-xã hội khác bị ảnh hưởng.
Thiệt hại vật chất trên 11,6 nghìn tỷ đồng (khoảng 1% GDP). Các địa phương bị
thiên tai đã nhận được sự cứu trợ kịp thời của Chính phủ, của đồng bào cả nước,
các tổ chức kinh tế, xã hội trong và ngoài nước.
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2008
Kinh tế-xã hội nước ta năm 2008 diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và
trong nước có nhiều biến động phức tạp, khó lường. Giá dầu thô và giá nhiều loại
nguyên liệu, hàng hoá khác trên thị trường thế giới tăng mạnh trong những tháng
giữa năm kéo theo sự tăng giá ở mức cao của hầu hết các mặt hàng trong nước; lạm
phát xảy ra tại nhiều nước trên thế giới; khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến
một số nền kinh tế lớn suy thoái, kinh tế thế giới suy giảm; thiên tai, dịch
bệnh đối với cây trồng vật nuôi xảy ra liên tiếp trên địa bàn cả nước gây ảnh
hưởng lớn đến sản xuất và đời sống dân cư.
Nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của Đảng, Quốc hội, Chính phủ;
sự nỗ lực cố gắng và chủ động khắc phục khó khăn của các Bộ, Ngành, địa phương,
các tập đoàn, doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất và của toàn dân nên kinh tế-xã
hội nước ta năm 2008 từng bước vượt qua khó khăn, thách thức, kinh tế có bước
tăng trưởng khá, lạm phát được kiềm chế, an sinh xã hội được bảo đảm, nhiều vấn
đế xã hội bức xúc đã tiếp tục được giải quyết có hiệu quả.
Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng
6,23% so với năm 2007, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,79%;
khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,33%; khu vực dịch vụ tăng 7,2. Tốc độ
tăng tổng sản phẩm trong nước năm nay tuy thấp hơn tốc độ tăng 8,48% của năm
2007 và mục tiêu kế hoạch điều chỉnh là tăng 7,0%, nhưng trong bối cảnh tài
chính thế giới khủng hoảng, kinh tế của nhiều nước suy giảm mà nền kinh tế nước
ta vẫn đạt tốc độ tăng tương đối cao như trên là một cố gắng rất lớn.
Giá tiêu dùng
Giá tiêu dùng năm 2008 nhìn chung tăng khá cao, diễn biến phức tạp, khác
thường so với các năm trước. Giá tăng cao ngay từ quý I và liên tục tăng lên
trong quý II, quý III, nhưng các tháng quý IV liên tục giảm nên giá tiêu dùng
tháng 12 năm 2008 so với tháng 12 năm 2007 tăng 19,89% và chỉ số giá tiêu dùng
bình quân năm tăng 22,97%.
Giá vàng bình quân năm 2008 so với năm 2007 tăng 31,93%. Giá đô la Mỹ bình
quân năm 2008 so với năm 2007 tăng 2,35%.
Thu, chi ngân sách Nhà nước
Mặc dù kinh tế tăng trưởng chậm hơn 2007, nhưng các nguồn thu có yếu tố nước
ngoài như dầu thô, thu từ cân đối xuất, nhập khẩu tăng mạnh nên thu ngân sách
Nhà nước năm nay vẫn tăng tương đối khá so với năm 2007 và vượt kế hoạch cả năm.
Tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2008 ước tính tăng 26,3% so với năm 2007 và bằng
123,8% dự toán năm.
Tổng chi ngân sách Nhà nước năm 2008 ước tính tăng 22,3% so với năm 2007 và
bằng 118,9% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 118,3%. Bội chi
ngân sách năm 2008 ước tính bằng 13,7% tổng số chi và bằng 97,5% mức được Quốc
hội thông qua đầu năm.
Đầu tư
Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2008 theo giá thực tế ước tính đạt 637,3
nghìn tỷ đồng, bằng 43,1% GDP và tăng 22,2% so với năm 2007.
Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm nay tiếp tục đạt kết quả cao. Cả
năm thu hút được 64 tỷ USD vốn đăng ký, gấp gần 3 lần năm 2007, đạt mức cao nhất
từ trước tới nay. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2008 đạt 11,5 tỷ
USD, tăng 43,2% so với năm 2007.
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2008 theo giá so sánh 1994
ước tính đạt 212,0 nghìn tỷ đồng, tăng 5,6% so với năm 2007, bao gồm giá trị sản
xuất nông nghiệp đạt 155,2 nghìn tỷ đồng, tăng 5,4%; giá trị sản xuất lâm nghiệp
đạt 6,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2,2% ; giá trị sản xuất thuỷ sản đạt 50,1 nghìn tỷ
đồng, tăng 6,7%.
Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng
14,6% so với năm 2007, bao gồm khu vực kinh tế Nhà nước tăng 4%; khu vực kinh tế
ngoài Nhà nước tăng 18,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,6%, trong đó
dầu khí giảm 4,3%.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Hoạt động thương mại và dịch vụ năm 2008 kém sôi động so với năm 2007 do giá
cả hàng hoá và dịch vụ tăng cao, sức mua trong dân giảm đáng kể, sản phẩm sản
xuất ra tiêu thụ chậm. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
theo giá thực tế năm 2008 ước tính đạt 968,1 nghìn tỷ đồng, tăng 31% so với năm
2007 (nếu loại trừ yếu tố tăng giá, mức tăng chỉ đạt 6,5%).
Xuất, nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ
Tính chung cả năm 2008, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu ước tính đạt 62,9 tỷ
USD, tăng 29,5% so với năm 2007, chủ yếu do giá trên thị trường thế giới tăng.
Tính chung cả năm 2008, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính 80,4 tỷ USD,
tăng 28,3% so với năm 2007. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá của một số mặt hàng thì
kim ngạch nhập khẩu năm nay chỉ tăng 21,4%.
Giá xuất khẩu dịch vụ năm 2008 ước tính đạt 7,1 tỷ USD, tăng 9,8% so với năm
2007; tổng trị giá nhập khẩu dịch vụ năm 2008 ước tính đạt 7,9 tỷ USD, tăng
10,3.
Vận tải
Vận tải hành khách năm 2008 ước tính đạt 1932,3 triệu lượt hành khách và 81,7
tỷ lượt hành khách.km, tăng 8,1% về khối lượng vận chuyển và tăng 7,6% về khối
lượng luân chuyển so với năm 2007. Khối lượng hàng hoá vận chuyển năm 2008 ước
tính đạt 604 triệu tấn, tăng 8,9% so với năm trước và khối lượng hàng hoá luân
chuyển ước tính đạt 174,3 tỷ tấn.km, tăng 40,5.
Bưu chính, viễn thông
Số thuê bao điện thoại phát triển mới năm 2008 ước tính đạt 27,6, nâng tổng
số thuê bao điện thoại đến hết tháng 12 năm 2008 lên 79,4 triệu thuê bao, tăng
53,1% so với cuối năm 2007. Số thuê bao Internet mới trong năm 2008 ước tính đạt
1,5 triệu, tăng 27,8% so với năm 2007, nâng tổng số thuê bao Internet đến cuối
tháng 12 năm 2008 lên 6,7 triệu thuê bao, tăng 28,4% so với cuối năm trước. Số
người sử dụng Internet ước tính 20,8 triệu người, tăng 12% so với thời điểm cuối
năm 2007.
Du lịch
Số khách quốc tế đến nước ta năm 2008 ước tính đạt 4,3 triệu lượt người, tăng
0,6% so với năm trước, trong đó số khách quốc tế đến bằng đường hàng không đạt
3,3 triệu lượt người, giảm 0,5% so với năm 2007; đường bộ 813,3 nghìn lượt
người, tăng 15,6%; đường biển 157,2 nghìn lượt người giảm 30,1%.
Dân số, lao động, việc làm
Dân số trung bình năm 2008 ước tính 86,16 triệu người, trong đó nam chiếm
49,1% nữ 50,9%. Dân số khu vực thành thị là 24 triệu người, tăng 2,85% so với
năm trước, chiếm 27,9% tổng dân số. Tổng số lao động đang làm việc trong các
ngành kinh tế năm 2008 ước tính 45 triệu người, tăng 2% so với năm 2007. Tỷ lệ
thất nghiệp của lao động trong độ tuổi khu vực thành thị ước tính 4,65%.
Đời sống dân cư
Mặc dù lương tối thiểu tăng từ 450 nghìn lên 540 nghìn đồng/tháng và lương
hưu trí cũng được trợ cấp thêm 15%, nhưng nhìn chung đời sống của cán bộ, công
nhân, viên chức cũng chưa được cải thiện đáng kể. Tính chung năm 2008, thu nhập
bình quân một tháng của lao động khu vực Nhà nước đạt 2,7 triệu đồng, tăng 28,6%
so với năm trước.
Năm 2008 cả nước có 957,5 nghìn lượt hộ thiếu đói, tăng 32,3%, và 4 triệu
lượt nhân khẩu thiếu đói, tăng 32,7%.
Để đảm bảo an sinh xã hội, ngân sách Nhà nước đã chi 42,3 nghìn tỷ đồng. Tỷ
lệ hộ nghèo chung của cả nước ước tính 13,5%, thấp hơn với mức 14,8% của năm
2007.
Tai nạn giao thông
Trong 11 tháng năm 2008, cả nước đã xảy ra 11,5 nghìn vụ tai nạn giao thông,
giảm 13,3% so với 11 tháng năm 2007, làm chết 10,4 nghìn người, giảm 12,7% và
làm bị thương 7,4 nghìn người, giảm 24,8%.
Thiệt hại thiên tai
Năm 2008, thiên tai xảy ra liên tiếp và nghiêm trọng hơn nhiều so với năm
trước, làm 550 người chết và mất tích, 440 người bị thương; gần 350 nghìn ha mạ,
lúa và hoa màu bị mất trắng; 1,2 nghìn tấn thóc giống hỏng; hơn 1 triệu con gia
súc và gia cầm bị chết; 68 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại.
Ngoài ra, mưa lũ còn làm sạt lở hơn 1 nghìn km đường giao thông cơ giới; gần 5
nghìn ngôi nhà bị sập hoặc bị cuốn trôi. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây
ra năm 2008 ước tính gần 12 nghìn tỷ đồng.
Cung cấp nước sạch
Năm 2008, tỷ lệ dân được cung cấp nước sạch ước tính đạt 75% cả ở khu vực đô
thị và nông thôn.
Nguồn vốn sử dụng cho Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh
môi trường nông thôn năm 2008 đạt 3975 tỷ đồng, tăng 83% so với năm 2007.
Bảo vệ môi trường sinh thái
Tỷ lệ che phủ rừng năm 2008 ước tính khoảng 38,8-39,3%, tăng 0,5% so với năm
2007.
Cả nước hiện có 4,3 nghìn cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng cần phải xử lý. Tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt trên cả nước ước
tính khoảng 12,8 triệu tấn/năm. Có khoảng 9% các đô thị từ thị xã trở lên có nhà
máy xử lý chất thải. Lượng chất thải rắn được xử lý đạt khoảng 6%; lượng chất
thải y tế chỉ xử lý được khoảng 40%.
Giáo dục và đào tạo
Năm học 2008-2009 cả nước có gần 490 nghìn trẻ em được gửi nhà trẻ, giảm 3,7%
so với năm học trước; hơn 2782 nghìn trẻ em học mẫu giáo, tăng 3,6%; gần 6750
nghìn học sinh tiểu học, giảm 0,3%; 5530 nghìn học sinh trung học cơ sở, giảm
3,1% và 2992,9 nghìn học sinh trung học phổ thông, tăng 0,7%. Tổng số giáo viên
năm học 2008-2009 là 799,4 nghìn giáo viên phổ thông, bao gồm 346,5 nghìn giáo
viên tiểu học; 313,8 nghìn giáo viên trung học cơ sở và 139,1 nghìn giáo viên
trung học phổ thông.
Số trường đại học tăng 15,1%; số trường cao đẳng tăng 14,2%; số sinh viên đại
học và cao đẳng tăng 4,1%; số học sinh trung cấp chuyên nghiệp tăng 19%. Năm
2008, tuyển mới 1538 nghìn học sinh vào các hệ học nghề, tăng 17% so với năm
2007.
Y tế và chăm sóc sức khỏe dân cư
Tình hình dịch bệnh năm 2008 diễn biến phức tạp. Cả nước có 4,9 nghìn trường
hợp mắc tiêu chảy cấp; 88,4 nghìn trường hợp sốt xuất huyết; 50,3 nghìn trường
hợp sốt rét (18 trường hợp tử vong); 7,2 nghìn trường hợp viêm gan virút; 1,1
nghìn trường hợp viêm não virút; 178,3 nghìn trường hợp nhiễm HIV...
Nhiều hoạt động đã được triển khai nhằm nâng cao nhận thức và thực hiện các
cam kết phòng, chống HIV/AIDS. Lần đầu tiên phát động “Tháng hành động quốc gia
phòng, chống HIV/AIDS năm 2008” nhân ngày Thế giới phòng, chống AIDS (01/12).
Chính phủ đã chỉ đạo các cấp, các ngành triển khai nhiều biện pháp nhằm nâng
cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm nhưng nhìn chung tình hình chưa được
cải thiện nhiều. Trong năm 2008, cả nước có gần 8 nghìn trường hợp bị ngộ độc
thực phẩm, tăng 18% so với năm 2007.
Văn hóa thông tin
Nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật được tổ chức nhằm đẩy mạnh công tác thông
tin, tuyên truyền và kỷ niệm các ngày lễ, hội lớn của dân tộc như: Lễ hội Giỗ tổ
Hùng Vương; kỷ niệm 63 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9; Festival Huế
2008. Trong năm 2008, đã tiến hành kiểm tra 16,5 nghìn cơ sở kinh doanh và hoạt
động dịch vụ văn hoá; phát hiện và xử lý 4,4 nghìn cơ sở vi phạm.
Thể dục, thể thao
Nhiều hoạt động thể dục, thể thao quần chúng lớn được tổ chức như: Hội khỏe
Phù Đổng toàn quốc lần thứ VII; giải Vô địch Vovinam; hội thi thể thao dân tộc
Chăm...
Trong năm 2008, đã cử 82 đội tuyển tham gia các giải thể thao quốc tế và đã
đạt được nhiều thành tích nổi bật: Giành 1 huy chương bạc tại Olympic Bắc Kinh;
giành 2 huy chương vàng, 5 huy chương bạc, 3 huy chương đồng tại Đại hội Thể
thao Bãi biển Châu Á lần thứ nhất tại In-đô-nê-xi-a; giành 1 huy chương bạc, 3
huy chương đồng tại Đại hội thể thao trí tuệ thế giới lần thứ nhất; đứng vị trí
thứ 2 toàn đoàn tại giải Cờ vua trẻ thế giới; giành 32 huy chương vàng, 11 huy
chương bạc, 4 huy chương đồng tại giải Bắn súng Đông Nam Á.v.v. Đặc biệt sau
nhiều năm tham dự, Đội tuyển bóng đá Việt Nam đã giành cúp vàng tại Giải vô địch
Đông Nam Á (Suzuki cup).
|